Giao cho doanh nghiệp công cụ đủ mạnh

09:43 | 22/09/2017

Các chuyên gia cho rằng, chỉ có phát triển NNCNC với sự tham gia tích cực của DN thì nông nghiệp Việt mới có thể mang lại kết quả tích cực, nhất là mở rộng thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho nông dân. 

NHNN sẽ tích cực phối hợp thúc đẩy triển khai tín dụng NNCNC
Ngành Ngân hàng Hà Nam: Khơi thông dòng vốn vào nông nghiệp công nghệ cao
Chắp cánh nông nghiệp công nghệ cao

Chính sách chưa sát thực tế?

Ông Nguyễn Anh Phong - Giám đốc Trung tâm Thông tin NN&PTNT (Viện Chính sách và Chiến lược phát triển NNNT) cho biết, tính đến hết năm 2015, cả nước có 34 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (NNCNC) đã và đang được quy hoạch xây dựng tại 19 tỉnh thuộc 7 vùng kinh tế. Ngoài ra, một số địa phương cũng đang phát triển các khu/cụm NNCNC mà chưa kịp đăng ký hoặc công bố chính thức.

Số lượng DN đầu tư NNCNC còn rất khiêm tốn

Bên cạnh những kết quả đạt được, ông Nguyễn Anh Phong cho rằng, việc phát triển NNCNC thời gian qua còn nhiều tồn tại, khó đạt được mục tiêu của Quyết định 176/QĐ-TTg ngày 29/01/2010 về phê duyệt Đề án phát triển NNCNC đến năm 2020. Cụ thể là mỗi tỉnh, vùng kinh tế trọng điểm phải có từ 7-10 DN, 5-7 vùng sản xuất NNCNC; mỗi vùng sinh thái có từ 1-3 khu NNCNC; tỷ trọng giá trị sản xuất NNCNC đạt từ 30-35% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp.

Lý giải nguyên nhân của tình trạng, ông Nguyễn Anh Phong cho hay, việc phát triển NNCNC thời gian qua còn khiêm tốn là do chính sách chưa đủ mạnh hoặc khó áp dụng. Theo đó, về đất đai, không có diện tích đất lớn, chi phí thuê và quản lý đất cao do ký hợp đồng với nhiều hộ nhỏ lẻ, đầu tư tài sản lớn trên đất không được đảm bảo khi nhà nước chuyển đổi mục đích sử dụng. Nhà nước thiếu nguồn lực thực hiện, đặc biệt là hạ tầng cho công nghệ cao. Thị trường khoa học công nghiệp chưa vận hành. Còn nhiều mức thuế khác nhau về các quy định miễn, giảm, thủ tục xác định được miễn giảm phức tạp gây phiền hà cho DN.

Ông Ngô Tiến Dũng - Tổng thư ký Hiệp hội các DN ứng dụng CNC (ATE) chia sẻ, Nghị định 210/NĐ-CP về chính sách hỗ trợ DN nông nghiệp chỉ như một “cơn gió thoảng”, chưa tạo ra những lực đẩy đủ mạnh để DN tìm về NNNT. Cho đến nay, nhiều DN vẫn chưa biết đến gói tín dụng 100.000 tỷ dành cho NNCNC. Nhiều DN vẫn có chung câu hỏi: Tiếp cận như thế nào, có phải làm đơn không? Thực tế, gói tín dụng 100.000 tỷ bao giờ triển khai, ai là đối tượng, câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ.

Theo số liệu của NHNN, đến nay, tổng dư nợ cho vay lĩnh vực NNCNC đạt gần 32.339 tỷ đồng, với 4.125 khách hàng còn dư nợ. Việc triển khai cho vay đối với NNCNC, nông nghiệp sạch còn nhiều khó khăn.

Lý giải việc triển khai cho vay lĩnh vực này còn nhiều khó khăn, ông Nguyễn Quốc Hùng – Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho rằng, ngân hàng cũng là một DN và họ có “cái lý của mình” khi số lượng các dự án NNCNC, nông nghiệp sạch hiện nay chưa nhiều; thiếu các dự án có phương án sản xuất kinh doanh khả thi, hiệu quả, được đầu tư bài bản.

Bên cạnh đó, sản xuất NNCNC là một lĩnh vực mới, chưa có tiền lệ, vì vậy tiềm ẩn rủi ro khi triển khai, trong khi lại thiếu các công cụ phòng ngừa rủi ro, nhất là chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp. Đó là chưa kể, các ngân hàng còn khó khăn trong việc xác định dự án NNCNC, nông nghiệp sạch theo các tiêu chí của Bộ NN&PTNT ban hành theo Quyết định số 738/QĐ-BNN-KHCN do không có đơn vị đứng ra xác nhận dự án NNCNC, nông nghiệp sạch.

Cần thay đổi tư duy DN

Các chuyên gia cho rằng, chỉ có phát triển NNCNC với sự tham gia tích cực của DN thì nông nghiệp Việt mới có thể mang lại kết quả tích cực, nhất là mở rộng thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho nông dân.

Để thúc đẩy phát triển NNCNC, ông Nguyễn Anh Phong cho rằng, cần có những đổi mới về chính sách. Cụ thể, đối với chính sách đất đai, cơ sở hạ tầng, việc quy hoạch đất cho NNCNC cần dựa trên cân đối cung cầu, lợi thế tự nhiên, kinh tế, xã hội và khả năng đầu tư, giữa thực trạng và dự báo tương lai, ưu tiên đặc biệt cho các khu NNCNC cho các mặt hàng nông sản chiến lược quốc gia. Ưu tiên phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng cho các khu vực quy hoạch dài hạn dành cho NNCNC. Xây dựng thí điểm các khu công nghệ cao theo hình thức chọn một DN trụ cột đầu tư, làm quy hoạch, quản lý chung và đầu tư một số cơ sở hạ tầng, sau đó một số nhà đầu tư thứ cấp tham gia, nhà nước chỉ làm đối tác công tư (PPP) đầu tư một phần nhỏ và điều này rất cần sự thay đổi tư duy của DN.

Đối với chính sách tín dụng, về đối tượng được hưởng chính sách, cần có bộ tiêu chí xác định mô hình sản xuất NNCNC đối với DN, hợp tác xã, hộ gia đình. Về địa bàn được hưởng chính sách, không giới hạn khu vực cố định để hỗ trợ DN công nghệ cao, chỉ cần đảm bảo đúng quy hoạch, đúng đối tượng. Áp dụng lãi suất thấp hơn lãi suất thương mại từ 0,5 - 1,5% vừa đảm bảo khuyến khích DN, vừa đảm bảo cho các NHTM vận hành theo cơ chế thị trường. Mở rộng các loại tài sản được thế chấp vay vốn bao gồm tài sản hình thành trên đất do đầu tư cho sản xuất NNCNC (trang trại, nhà kính…).

Ông Phạm Xuân Hòe - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng (NHNN) cho rằng, muốn đẩy nhanh quá trình ứng dụng NNCNC, nhất thiết phải có một cuộc cách mạng, đổi mới triệt để tư duy làm chính sách. Làm NNCNC và nông nghiệp sạch nhất thiết phải làm theo chuỗi giá trị, phải gắn với thị trường đầu ra.

Ông Ngô Thế Dân - Chủ tịch Trung ương Hội Làm vườn Việt Nam nhấn mạnh, phát triển NNCNC là xu hướng tất yếu, hiện Việt Nam cũng đã có nhiều mô hình NNCNC xuất hiện nhưng chính sách phát triển NNCNC còn nhiều bất cập, cần giải pháp tháo gỡ đồng bộ.

Các chuyên gia cho rằng, chỉ có phát triển NNCNC với sự tham gia tích cực của DN thì nông nghiệp Việt mới có thể mang lại kết quả tích cực, nhất là mở rộng thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập cho nông dân.

Hồng Hạnh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.625 22.855 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.638 22.858 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.657 22.869 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.645 22.855 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
57.850
58.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
57.850
58.550
Vàng SJC 5c
57.850
58.570
Vàng nhẫn 9999
51.400
52.100
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.800