Hạ lãi suất để giảm lạm phát

11:45 | 15/03/2012

Nói như vậy tưởng chừng như trái với các nguyên lý kinh tế. Bởi về nguyên tắc, để kiềm chế lạm phát phải tăng lãi suất. Lãi suất huy động phải đủ cao mới có thể hút tiền về; đồng thời lãi suất cho vay phải đủ cao để hạn chế tín dụng. Thế nhưng phân tích kỹ diễn biến lạm phát và việc điều hành chính sách tiền tệ thời gian qua sẽ thấy, việc hạ lãi suất chẳng những không ảnh hưởng mà còn có tác động tích cực đến kiềm chế lạm phát.

Quả vậy, mức lãi suất hiện nay vẫn đủ hấp dẫn để hút tiền. Bởi trên thực tế, lạm phát tính theo năm liên tục giảm kể từ tháng 8/2011 đến nay, khiến kỳ vọng lạm phát giảm mạnh. So với mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức một con số mà Chính phủ đề ra trong năm nay thì lãi suất huy động 13%/năm là thực dương.

Đó là chưa kể, thời gian vừa qua, NHNN đã có nhiều giải pháp để nâng cao vị thế của VND như ổn định tỷ giá và vẫn giữ một khoảng cách chênh lệch lãi suất khá lớn giữa VND và USD... khiến hiện tiết kiệm vẫn là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả nhất.

Ảnh: VnExpress

Theo thống kê của NHNN, tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các TCTD đến 20/2/2012 ước tăng 1,66% so với tháng trước, trong đó tiền gửi bằng VND tăng 2,24%, tiền gửi bằng ngoại tệ giảm 0,81%.

Về phía đầu ra, việc hạ lãi suất cũng khó có thể đẩy tín dụng tăng cao bởi NHNN vẫn còn một barie quan trọng đó là hạn mức tăng trưởng tín dụng.

Với hạn mức này, lẽ đương nhiên các TCTD phải lựa chọn kỹ lưỡng khách hàng, dự án để đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn cũng như phát huy tối đa hiệu quả của đồng vốn nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

Việc kiểm soát chặt tín dụng đối với những lĩnh vực không khuyến khích để tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh cũng sẽ giảm thiểu tác động tiêu cực đến lạm phát.

Đặc biệt, NHNN cũng đang  kiểm soát rất chặt lượng tiền cung ứng phù hợp với diễn biến của nền kinh tế và đang tính đến phương án phát hành tín phiếu bắt buộc đối với những NHTM dư thanh khoản để hút tiền về.

Dưới một góc độ khác, với việc điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ thận trọng của NHNN cùng với chính sách tài khóa thắt chặt đã khiến tổng cầu của nền kinh tế giảm khá mạnh, đặc biệt là cầu tiêu dùng; kéo theo giảm bớt áp lực lạm phát từ phía cầu.

Theo Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng 2 giảm 2,4% so với tháng 1. Trong khi nếu loại trừ yếu tố giá, tháng 1 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cũng chỉ tăng 4% so với cùng kỳ - một mức tăng rất thấp trong nhiều năm gần đây.

Tuy nhiên, lạm phát còn chịu tác động do chi phí đẩy và yếu tố mùa vụ. Đó chính là lý do, CPI tháng 1, tháng 2 có xu hướng tăng trở lại do đây là thời  điểm Tết Nguyên đán cộng với việc giá gas, xăng dầu tăng cao cho dù chính sách tiền tệ vẫn được điều hành chặt chẽ, thậm chí NHNN còn liên tục hút ròng tiền về.

Theo NHNN, tính  đến 20/2, tổng phương tiện thanh toán giảm 0,64% so với tháng trước và giảm 0,11% so với cuối năm 2011.

Trong khi đó, việc giảm lãi suất lại có tác dụng giảm bớt sức nóng từ phía chi phí đẩy do lãi suất hạ sẽ giúp các doanh nghiệp  giảm bớt được chi phí vốn để hạ giá thành sản phẩm, sản phẩm được tiêu thụ tốt hơn.Từ đó sẽ  kích thích tiêu dùng của  người dân, doanh nghiệp. Đầu ra thông suốt lại càng thúc đẩy  sản xuất kinh doanh phát triển, nền kinh tế nhờ vậy cũng vận hành thông suốt sẽ giảm áp lực lên lạm phát.

Minh Trí

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.300
41.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.300
41.530
Vàng SJC 5c
41.300
41.550
Vàng nhẫn 9999
41.290
41.710
Vàng nữ trang 9999
40.730
41.530