Hà Nội là điểm sáng xuất khẩu

09:11 | 17/03/2022

Từ đầu năm đến nay, mặc dù vẫn chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng hoạt động xuất khẩu của TP. Hà Nội có nhiều khởi sắc khi có sự tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ năm 2021. Hầu hết các DN xuất khẩu trên địa bàn đều đã khôi phục sản xuất, tích cực mở rộng thị trường, nhiều mặt hàng, thị trường duy trì kim ngạch tăng cao.

Theo đại diện UBND thành phố Hà Nội, trong kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế, xã hội Thủ đô năm 2022, thành phố coi đẩy mạnh xuất khẩu là nhiệm vụ trọng tâm nhằm giúp các DN vượt qua khó khăn. Đồng thời, phân công rõ trách nhiệm cho các sở, ngành, địa phương chủ động triển khai và kiểm tra, đánh giá việc tổ chức thực hiện các giải pháp hỗ trợ DN, đẩy mạnh xuất khẩu trên địa bàn. Thời gian tới, Hà Nội tiếp tục chủ động thích ứng an toàn, linh hoạt trong điều kiện dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp, phấn đấu đưa hoạt động xuất nhập khẩu trở lại trạng thái bình thường trong thời gian ngắn nhất.

ha noi la diem sang xuat khau
Các DN trên địa bàn Hà Nội đẩy mạnh xuất khẩu

Cho đến nửa tháng 3/2022, nhiều nhóm hàng xuất khẩu của Hà Nội đã tăng vọt so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy các DN đã thích ứng linh hoạt, vượt qua khó khăn của dịch bệnh để ổn định sản xuất. Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Hà Nội, trong tháng 2/2022 kim ngạch xuất khẩu đạt 1.318 triệu USD, tăng 53% so với cùng kỳ năm 2021 (cùng kỳ tăng 10,7%). Trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 690 triệu USD, tăng 44,8%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 628 triệu USD, tăng 63,1%. Các nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước như máy vi tính, hàng điện tử và linh kiện đạt 254 triệu USD, gấp 2,5 lần cùng kỳ; hàng dệt, may đạt 237 triệu USD, gấp 2,1 lần; máy móc, thiết bị phụ tùng đạt 186 triệu USD, tăng 50,6%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 166 triệu USD, tăng 84,4%; hàng nông sản đạt 77 triệu USD, tăng 55,1%. Tính chung 2 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 2.671 triệu USD, tăng 30,9% so với cùng kỳ năm trước.

Ông Vũ Duy Tuấn, Phó Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư Hà Nội cho biết, những chỉ số tăng trưởng xuất khẩu thời gian qua cho thấy dấu hiệu phục hồi tích cực của nền kinh tế. Điều này cũng được thể hiện ở việc các DN đã có niềm tin vào sự phát triển. Chính vì vậy trong 2 tháng đầu năm 2022, Hà Nội đã có 3.633 DN thành lập mới , tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Có 4.200 DN hoạt động trở lại, tăng 31%.

Bà Đỗ Tuệ Tâm, Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro) chia sẻ, trong hơn 2 năm qua, dịch Covid tác động tiêu cực đến hầu khắp các lĩnh vực kinh doanh chính của Tổng công ty, từ xuất nhập khẩu với trọng tâm là các sản phẩm hàng nông sản thực phẩm, tới kinh doanh thương mại nội địa. Một trong những mũi nhọn của Tổng công ty là xuất khẩu cũng đã bị ảnh hưởng không nhỏ khi mà thị trường tiêu thụ bị thu hẹp do giao thương bị hạn chế. Trong bối cảnh đó, DN đã nỗ lực tìm nhiều giải pháp như tham dự chương trình kết nối giao thương trực tuyến để tìm kiếm cơ hội hợp tác xuất, nhập khẩu. Thông qua Đại sứ quán Việt Nam tại các nước, các Tham tán thương mại để tìm hiểu nhu cầu và tiếp cận thị trường nước ngoài, giới thiệu, quảng bá sản phẩm xuất khẩu. Bên cạnh đó Hapro tiếp tục khai thác tốt các lợi ích đem lại từ những FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA cùng việc kết hợp với các phương thức giao thương trực tuyến nhằm tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường để thúc đẩy xuất khẩu. Hiện nay, các mặt hàng của Hapro đã được xuất khẩu tới 80 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.

Bà Trần Thị Phương Lan, quyền Giám đốc Sở Công thương Hà Nội cho biết, trên thực tế, trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp như hiện nay, để đạt được mục tiêu kim ngạch xuất khẩu tăng 5% trong năm 2022 cần có những giải pháp kịp thời không chỉ hỗ trợ DN mà còn đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường. Các DN xuất nhập khẩu hiện nay đã chủ động các giải pháp ứng phó linh hoạt với đại dịch, đồng thời tận dụng tốt các các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia gần đây, nhất là các FTA thế hệ mới để mở rộng thị trường xuất khẩu. Thời gian tới, Sở Công thương cũng sẽ tiếp tục hỗ trợ công tác xúc tiến xuất khẩu để DN có thể nắm bắt, chuyển hóa lợi ích từ các FTA kết quả cụ thể. Đồng thời, tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai tổ chức nhiều các hoạt động, sự kiện kích cầu, xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư phù hợp với hoàn cảnh mới.

Nguyễn Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.180 23.490 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.190 23.470 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.195 23.495 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.180 23.470 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.230 23.450 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.230 23.460 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.220 23.567 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.209 23.500 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.150 23.440 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.250 23.500 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.100
68.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.100
68.700
Vàng SJC 5c
68.100
68.720
Vàng nhẫn 9999
53.100
54.050
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.650