Hapro làm gì sau cổ phần hóa

09:27 | 26/10/2018

Hapro sẽ tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xuất khẩu các mặt hàng nông sản có thế mạnh của Việt Nam

Sau cổ phần hóa, Hapro tiếp tục mở rộng thị trường ngoại
Hapro và Intimex mở nhiều điểm bán vải thiều Thanh Hà đạt chuẩn VietGAP
Giá tham chiếu cổ phiếu Hapro ngày giao dịch đầu tiên là 12.900 đồng

Sáu tháng sau khi bán cổ phần lần đầu ra công chúng và tổ chức đại hội cổ đông lần đầu, hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty Thương mại Hà Nội – CTCP (Hapro) có những chuyển biến rõ nét nhất là trong lĩnh vực xuất khẩu.

Bà Nguyễn Thị Nga - Chủ tịch Tập đoàn BRG kiêm Chủ tịch HĐQT Tổng CTCP Hapro Madame cho biết, sau cổ phần hóa (CPH) trọng tâm phát triển của Hapro là đẩy mạnh và nâng cao kim ngạch xuất khẩu, đưa thương hiệu xuất khẩu Hapro trở thành thương hiệu quốc tế hàng đầu tại khu vực, bao trùm mọi hoạt động của Tổng công ty; đồng thời xây dựng Hapro trở thành công ty chủ lực của tập đoàn trong lĩnh vực xuất khẩu, gắn thương hiệu xuất khẩu Hapro với thương hiệu BRG của tập đoàn. Bên cạnh đó, Hapro cũng đặt mục tiêu xây dựng thành công 5 mặt hàng xuất khẩu nằm trong top 5 DN xuất khẩu hàng đầu cả nước gồm: Gạo, hạt điều, hạt tiêu, cà phê, thủ công mỹ nghệ.

Hapro sẽ tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xuất khẩu các mặt hàng nông sản có thế mạnh của Việt Nam

Với thị trường xuất khẩu trên 80 quốc gia, Hapro hướng tới tầm nhìn bền vững với việc chủ động phát triển vùng nguyên liệu đối với những mặt hàng xuất khẩu chính gắn với xây dựng và phát triển một số nhà máy chế biến như: đầu tư thêm 1 nhà máy chế biến gạo, xây dựng nhà máy chế biến tiêu sạch tại Bình Dương, mở rộng nhà máy chế biến hạt điều tại Bình Phước… Đây là điều kiện để Hapro phát triển một số sản phẩm mang thương hiệu riêng xuất khẩu trực tiếp vào hệ thống bán lẻ nước ngoài, gia tăng giá trị cho sản phẩm nông sản của Việt Nam.

Ngoài ra, Hapro cần đẩy mạnh phát triển các cơ sở vệ tinh, tăng cường khả năng phát triển nguồn hàng trong và ngoài nước, tạo kênh hàng hóa đa chiều nhất là đối với một số mặt hàng nông sản thế mạnh của Việt Nam. Phấn đấu đến năm 2020 tổng doanh thu của Hapro đạt khoảng 9.000 tỷ đồng (tăng 45% so với 2018) với 80% doanh thu đến từ kinh doanh xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu đạt 200 triệu USD (tăng 66% so với năm 2018).

Nhiều giải pháp mang tính đột phá để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, giữ vững thị trường nước ngoài đã được Hapro triển khai như tham gia các hội chợ nông sản, thực phẩm lớn; các hội nghị xúc tiến thương mại lớn trên thế giới về nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm; các chương trình kết nối thông tin với các DN nước ngoài; củng cố các mối liên hệ với các đại sứ quán, cơ quan ngoại giao của Việt Nam tại các nước và các cơ quan Thường vụ, Đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam từ đó thúc đẩy việc đưa hàng hóa ra thị trường quốc tế.

Như tháng 5/2018, Hapro đã lần đầu tiên xuất khẩu lô vải thiều Thanh Hà vào thị trường Malaysia; tháng 6/2018, xuất khẩu lô hàng gạo đầu tiên đóng bao 5kg, 10kg/túi vào chuỗi siêu thị tại Dubai (thuộc Các tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất (UAE). Ngày 13/6/2018, Hapro được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ cấp mã số xuất khẩu gạo vào thị trường Mỹ và ngay sau đó đã xuất khẩu thành công lô hàng gạo đầu tiên với 750 tấn vào thị trường này. Tham dự Hội chợ World Food Itstabul (Thổ Nhĩ Kỳ) cuối tháng 8/2018, Hapro đã ký được một số hợp đồng xuất khẩu nông sản với trị giá khoảng 1 triệu USD. Hai tuần đầu tháng 10, tham gia Hội nghị điều quốc tế tổ chức tại TP. Hạ Long, Quảng Ninh và Hội nghị gạo thế giới tổ chức tại Hà Nội, Hapro đã ký được một số hợp đồng xuất khẩu hạt điều cho khách hàng đến từ Mỹ và châu Âu trị giá khoảng một triệu USD và 3 hợp đồng xuất khẩu gạo cho các khách hàng đến từ Mỹ và Malaysia trị giá gần 2,5 triệu USD.

Tại Hội chợ quốc tế công nghiệp thực phẩm SIAL (Pháp) đang diễn ra, Hapro đã ký được các hợp đồng xuất khẩu các mặt hàng nông sản trị giá khoảng 2 triệu USD (Hạt điều, hạt tiêu, gạo cơm dừa, ớt, quế, hồi… ) và đang tích cực giao dịch, chốt giá với các khách hàng đã đến làm việc với tổng công ty để tiếp tục ký kết các hợp đồng xuất khẩu các sản phẩm chủ lực của Hapro như gạo, hạt tiêu, hạt điều, tinh bột sắn, rau củ quả chế biến, sấy khô, sấy dẻo...

Nhờ thực hiện các giải pháp đồng bộ, trong đó phải kể đến những nỗ lực trong hoạt động xúc tiến thương mại; sau 4 tháng hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, Hapro tiếp tục duy trì được nhịp độ phát triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đã đạt 89 triệu USD, bằng 122% so với cùng kỳ năm 2017. Tổng doanh thu đạt 3.905 tỷ đồng, bằng 120% so với cùng kỳ năm 2017. Một số mặt hàng xuất khẩu tiếp tục có tốc độ tăng trưởng cao như: hạt điều đạt 62 triệu USD, tăng 15%; gạo đạt gần 12 triệu USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2017.

Thời gian tới, với vai trò là một DN thành viên của Tập đoàn BRG, Hapro sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản thực phẩm có thế mạnh của Việt Nam, chú trọng các sản phẩm hữu cơ, organic như gạo, hạt điều, hạt tiêu, cà phê, các sản phẩm thực phẩm chế biến, một số loại hoa quả, rau như: thanh long, chanh không hạt, vải, nhãn, bắp cải, ớt… vào các thị trường truyền thống và thị trường mới như Mỹ, Malaysia, châu Âu, Tây Á, một số nước châu Phi…

Hoa Hạ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.235 23.545 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.265 23.545 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.245 23.545 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.260 23.540 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.280 23.510 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.270 23.750 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.270 23.770 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.264 23.550 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.240 23.545 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.310 23.560 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.000
67.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.000
67.000
Vàng SJC 5c
66.000
67.020
Vàng nhẫn 9999
52.300
53.200
Vàng nữ trang 9999
52.200
52.800