Hệ thống tài chính đang kém hiệu quả

11:24 | 04/12/2014

Phần đánh giá hệ thống tài chính chiếm một nửa độ dài của Báo cáo Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam, được WB công bố hôm 3/12, cho thấy sự biến đổi và hiệu quả hoạt động khu vực tài chính đang được các tổ chức tài chính quốc tế quan tâm.

Những quan ngại

Điểm lại diễn biến kinh tế Việt Nam, ông Sandeep Mahajan – Kinh tế trưởng WB nhấn mạnh: “Những diễn biến kinh tế vĩ mô tích cực đã góp phần cải thiện mức xếp hạng rủi ro tín dụng quốc gia của Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Việt Nam phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế với mức lãi suất rất hợp lý – 4,8%”.


Tăng trưởng tốt khi có khối kinh tế tư nhân trong nước phát triển chứ không phải dựa vào DN FDI

Ông cũng cho biết, theo khảo sát của WB, các DN có vốn đầu tư nước ngoài đã thể hiện niềm tin khả quan cho tương lai trước dấu hiệu phục hồi của kinh tế Việt Nam.  Nhiều DN FDI đã nói về khả năng mở rộng sản xuất, mở rộng đầu tư ở Việt Nam.

Tuy đưa ra viễn cảnh như trên, nhưng báo cáo cũng chỉ rõ những hạn chế khiến kinh tế Việt Nam khó có mức tăng trưởng cao hơn. Đó là khu vực kinh tế tư nhân trong nước vẫn rất khó khăn. Bà Victoria Kwakwa thì khẳng định: “Kinh nghiệm các nước cho thấy chỉ có thể tăng trưởng tốt khi có khối kinh tế tư nhân trong nước phát triển tốt, chứ không phải dựa vào DN FDI”.

Quan ngại tiếp theo là nợ công. Cho dù rủi ro nợ công vẫn ở mức thấp theo phân tích bền vững nợ của WB, nhưng tốc độ gia tăng khá nhanh của tổng nợ công trong vài năm gần đây đang trở thành vấn đề gây nhiều quan ngại.

Một quan ngại khác là năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Cho dù Chính phủ đã có nhiều nỗ lực cải thiện, Nghị quyết 19/NQ-CP về nâng cao năng lực cạnh tranh được ban hành và các ngành các cấp đã và đang thực hiện, tuy nỗ lực đã thể hiện rõ nhưng vẫn là sự cải thiện chậm hơn các quốc gia khác và vẫn còn khoảng cách giữa quyết tâm ở cấp trung ương đến việc thực thi ở cấp ngành và địa phương.

Hệ thống tài chính – quy mô lớn hiệu quả kém

Hiệu quả của khu vực tài chính được WB coi là quan ngại thứ tư của Việt Nam trong nỗ lực tìm kiếm động lực cho tăng trưởng bền vững. Vì thế, phần II báo cáo của WB chuyên sâu đánh giá về khu vực tài chính Việt Nam. Theo WB, hoạt động hệ thống tài chính hiệu quả kém do một loạt phức hợp các vấn đề về thể chế và quy định pháp lý.

Báo cáo cũng chỉ ra một số biểu hiện cụ thể như: các cơ quan chức năng trung ương và địa phương can thiệp vào các quyết định về đầu tư và tín dụng của các DNNN; cơ cấu quản trị và năng lực quản trị rủi ro của các DN, NHTM chưa theo kịp yêu cầu; cơ sở hạ tầng tài chính với những bất cập về các tiêu chuẩn báo cáo tài chính còn yếu kém, việc quản lý và giám sát đối với khu vực tài chính còn nhiều lỗ hổng.

So với các nước có thu nhập trung bình thấp thì hệ thống tài chính của Việt Nam là lớn, với tổng tài sản lên đến 200% GDP (năm 2011). Nhưng quy mô của các định chế tài chính phi ngân hàng và thị trường chứng khoán nhỏ. Số lượng các công ty niêm yết tăng đáng kể do thực hiện chủ trương cổ phần hóa DNNN, nhưng giá trị vốn hóa thấp (20% GDP) và quy mô các công ty niêm yết cũng khá nhỏ. Bên cạnh đó, 90% thị trường trái phiếu là TPCP, mặc dù mới chỉ chiếm tỷ trọng 15% GDP. Quỹ hưu trí chưa nhiều và vẫn còn không ít đối tượng chưa tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Mong muốn kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn chỉ có thể trở thành hiện thực khi có tiến bộ thực sự trong việc giải quyết những bất cập đang gây trở ngại tới hiệu quả và năng suất của nền kinh tế. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ cải cách và hoàn thiện môi trường kinh doanh là mấu chốt để đưa nền kinh tế vươn tới quỹ đạo tăng trưởng mới”, bà Victoria Kwakwa, Giám đốc WB tại Việt Nam nhận định.

Linh Ly

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.530 23.720 24.584 25.838 26.669 27.782 28016 220,20
BIDV 23.560 23.720 25.003 25.810 26.990 27.534 207,78 215,98
VietinBank 23.538 23.708 24.992 25.827 27.024 27.664 210,59 218,29
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.530 23.700 24.894 25,549 27.052 27.764 210,34 215,88
ACB 23.530 23.700 24.998 25.434 27.233 27.639 211,70 215,39
Sacombank 23.515 23.700 24.976 25.541 27.120 27.635 210,72 217,13
Techcombank 23.540 23.700 24.725 25.691 26.799 27.727 209,95 216,81
LienVietPostBank 23.530 23.710 24.908 25.563 27.092 27.687 210,51 218,88
DongA Bank 23.560 23.700 24.990 25.280 27.080 27.420 207,90 214,00
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.100
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.100
47.920
Vàng SJC 5c
47.100
47.920
Vàng nhẫn 9999
45.200
46.100
Vàng nữ trang 9999
44.800
45.900