Hỗ trợ giảm cước SMS: Ngân hàng vẫn… chờ

11:26 | 01/09/2020

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) đã 3 lần gửi công văn đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT) chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông giảm cước tin nhắn SMS đối với các dịch vụ tài chính - ngân hàng, gần nhất vào ngày 17/7/2020. Tuy nhiên, đến nay, phía VNBA vẫn chưa nhận được phản hồi nào hay các động thái giải quyết từ doanh nghiệp viễn thông.

Nỗ lực giảm phí hỗ trợ người dân, doanh nghiệp

Kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát tại Việt Nam, nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch, NHNN đã có những chỉ đạo kịp thời theo thẩm quyền về miễn, giảm phí dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Theo đó, cơ quan quản lý đã điều chỉnh giảm 50% mức phí giao dịch thanh toán liên ngân hàng qua Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng áp dụng từ 1/4 -31/12/2020 và hoàn phí giao dịch của Ngân hàng Chính sách xã hội khi thực hiện giải ngân cho vay người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.

Bên cạnh đó, NHNN đã có 2 lần liên tiếp chỉ đạo Công ty cổ phần thanh toán Quốc gia Việt Nam (Napas), các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện miễn, giảm các loại phí dịch vụ thanh toán và đến nay, đã có 100% ngân hàng tham gia thực hiện.

ho tro giam cuoc sms ngan hang van cho
Ảnh minh họa

NHNN cũng chỉ đạo các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài áp dụng chính sách miễn phí chuyển tiền ủng hộ phòng, chống dịch Covid-19 và hạn hán, xâm nhập mặn qua tài khoản ngân hàng và miễn phí dịch vụ thanh toán cho các đối tượng nhận hỗ trợ theo Nghị quyết số 42 và Quyết định số 15.

Napas và Vietcombank cũng áp dụng chính sách riêng hỗ trợ miễn, giảm phí thanh toán trực tuyến cho một số doanh nghiệp giao thông vận tải chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 áp dụng từ 10/4/2020 đến hết ngày 31/12/2020. Sau 2 lần giảm phí, 63% giao dịch thanh toán của khách hàng qua liên ngân hàng 24/7 qua Napas được miễn hoặc giảm phí với tổng số tiền phí TCTD đã miễn, giảm cho khách hàng đến hết năm 2020 là khoảng 1.004 tỷ đồng. Dự kiến đến hết năm 2020, số thu phí dịch vụ thanh toán của NHNN giảm khoảng 285 tỷ đồng để hỗ trợ TCTD tiếp tục giảm phí dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng cho người dân, doanh nghiệp

Số liệu từ NHNN cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2020, hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng của NHNN đã xử lý khoảng 69,2 triệu giao dịch, với giá trị xấp xỉ 50 triệu tỷ đồng, tăng 14,9% về giá trị giao dịch so với cùng kỳ năm 2019. Ngoài ra, hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử đã xử lý gần 498 triệu giao dịch đạt giá trị 3,9 triệu tỷ đồng, tăng 72,4% về số lượng và tăng 102,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019.

Nặng gánh chi phí

Các con số trên đều cho thấy những nỗ lực của ngành Ngân hàng. Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, việc các ngân hàng thực hiện miễn, giảm các loại phí như phí tin nhắn SMS, phí chuyển tiền… có thể nói là một trong những yếu tố thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng trong những tháng đầu năm nay. Tuy nhiên, thực tế là bản thân các ngân hàng lại đang phải gánh nhiều loại phí, đơn cử là phí tin nhắn SMS đối với các dịch vụ tài chính - ngân hàng.

VNBA đã nhiều lần gửi công văn đến Bộ Thông tin và Truyền thông, đồng thời tham gia họp với Cục Viễn thông để bàn về các nội dung liên quan đến việc giảm phí tin nhắn SMS cho các NHTM. Cục Viễn thông đã yêu cầu các công ty viễn thông thực hiện giảm giá tin nhắn và ngày 18/5/2020 có báo cáo đề xuất gửi về cục, song đến nay VNBA vẫn chưa nhận được thông tin về việc thực hiện giảm giá cước.

Hiện nay, giá cước tin nhắn mà các công ty viễn thông đang áp dụng đối với ngân hàng cao gấp 3 lần so với tin nhắn thông thường. Mỗi giao dịch chuyển tiền/thanh toán, các ngân hàng đều cần gửi ít nhất 2 tin nhắn cho khách hàng. Một ngân hàng khi thực hiện chính sách miễn phí tin nhắn SMS cho khách hàng đồng nghĩa phải chi trả và chịu lỗ chi phí tin nhắn bình quân là 1.640 đồng/giao dịch thanh toán. Bình quân một khách hàng có từ 15 - 20 giao dịch/tháng, tương đương là 20.000 - 25.000 đồng/tháng. Hàng tháng, một ngân hàng quy mô nhỏ phát sinh khoảng 9-11 triệu tin nhắn/tháng tương đương phải trả cho công ty viễn thông 7,5 tỷ - 9 tỷ đồng/tháng. Trong khi đó, phí SMS banking được ngân hàng thu ở mức thấp và chỉ thu 1 lần 1 tháng (từ 5.500 đồng/tháng đến 8.800 đồng/tháng, một vài ngân hàng thu 11.000 đồng/tháng).

VNBA đề nghị Bộ TTTT chỉ đạo quyết liệu để các doanh nghiệp viễn thông thực hiện giảm phí cước tin nhắn SMS đối với dịch vụ tài chính - ngân hàng xuống bằng giá cước tin nhắn thông thường hoặc bằng 50% giá cước tin nhắn hiện nay hoặc bằng mức giá của Vietnammobile (280 đồng - 400 đồng/tin nhắn giao dịch tài chính, 500 đồng/tin nhắn quảng cáo chăm sóc khách hàng).

Ngoài cước phí tin nhắn thì các ngân hàng tại Việt Nam cũng đang phải chịu gánh nặng phí của các tổ chức thẻ quốc tế như Visa, Mastercard. Theo thống kê trung bình, các ngân hàng thanh toán đang phải trải cho Visa, MasterCard từ 3-4 loại phí trên mỗi giao dịch. Mức thu phí của các tổ chức thẻ quốc tế đối với các giao dịch trong nước đang quá cao so với mức thu phí của các tổ chức chuyển mạch thẻ.

Phía VNBA đã có văn bản gửi Visa và MasterCard, đề nghị đối với phí xử lý giao dịch, Visa và MasterCard xem xét trong vòng 12 tháng tới giảm tối thiểu 50% phí xử lý giao dịch đối với cả ngân hàng thanh toán và ngân hàng phát hành. Áp dụng cơ chế thu một loại phí đối với 1 giao dịch, hạn chế tình trạng thu phí chồng phí, chỉ thu phí đối với giao dịch thành công, không thu phí đối với giao dịch lỗi. Đối với phí trao đổi (interchange fee) ngân hàng thanh toán phải trả ngân hàng phát hành, hiện nay, do mức phí trao đổi các tổ chức thẻ quốc tế thu cao nên các ngân hàng thanh toán phải thu của đơn vị chấp nhận thẻ cao tương ứng. Vì vậy, VNBA đề nghị Visa và MasterCard giảm mức phí interchange cho các nhóm ngành nghề căn cứ theo mức độ dịch bệnh.

Đồng thời cũng đề nghị Visa và Master cần rà soát, điều chỉnh chính sách phí dài hạn nhằm hỗ trợ thị trường thẻ Việt Nam. Cụ thể, đối với phí trả cổng thanh toán, đề nghị giảm 50% phí xử lý giao dịch (tương đương còn 0,015 USD/giao dịch) và miễn phí đối với các loại phí đăng ký và sử dụng dịch vụ cổng cho đơn vị chấp nhận thẻ, ngân hàng thanh toán và phí bảo trì hàng tháng. Đối với chính sách thu phí, Visa và MasterCard đơn giản hóa cơ chế thu phí để hạn chế tình trạng thu phí chồng phí, hỗ trợ các ngân hàng trong việc dễ dàng theo dõi tình hình thu phí của các tổ chức thẻ quốc tế. Có chính sách phí ưu đãi đối với các giao dịch trong nước, giảm bớt mức phí để phù hợp với mức phí của tổ chức chuyển mạch thẻ.

Tổng thư ký VNBA ông Nguyễn Toàn Thắng chia sẻ, ngay sau khi VNBA có công văn đề nghị, hai tổ chức thẻ quốc tế Visa và Mastercard đã tiếp xúc, có ý kiến trả lời với VNBA. Hai tổ chức thẻ quốc tế đều bày tỏ thiện chí với các đề nghị từ phía VNBA, hứa xem xét để giải quyết thỏa đáng. Visa và Mastercard cũng giải thích về chính sách phí toàn cầu  của mình. “Hiện tại, chúng tôi và các tổ chức hội viên cũng đang chờ đợi và tiếp tục đề nghị có những giải pháp thiết thực từ Visa và Mastercard để chia sẻ với các ngân hàng Việt Nam”, Tổng thư ký VNBA thông tin.

Khuê Nguyễn

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.910 23.120 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.925 23.125 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.888 23.128 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.880 23.090 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.910 23.090 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.930 23.110 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.929 23.141 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.922 23.122 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.920 23.100 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.940 23.100 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.550
55.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.550
55.950
Vàng SJC 5c
55.550
55.970
Vàng nhẫn 9999
52.800
53.400
Vàng nữ trang 9999
52.500
53.200