Hỗ trợ lao động tự do: Rõ đối tượng và trách nhiệm

08:51 | 09/07/2021

Mặc dù đánh giá cao tính nhân văn của Nghị quyết 68/NQ-CP với những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động, bao gồm cả lao động tự do, vượt qua những khó khăn do đại dịch Covid-19. Tuy nhiên theo ông Phạm Quang Tú - Phó giám đốc quốc gia Tổ chức Oxfam tại Việt Nam, để tránh nguy cơ “có chính sách nhưng triển khai không hiệu quả” cần phải làm khá nhiều việc.

ho tro lao dong tu do ro doi tuong va trach nhiem
Ông Phạm Quang Tú

Theo ông, việc hỗ trợ cho nhóm lao động tự do có dễ thực hiện và liệu sẽ đối mặt với những rủi ro gì?

Kinh nghiệm từ gói hỗ trợ lần thứ nhất cho thấy, dù đây là nhóm chịu thiệt thòi nhất nhưng lại là nhóm khó khăn để triển khai hỗ trợ nhất, do tính chất di biến của họ. Vì thế, để hỗ trợ cần có sự linh hoạt và đầu tư công sức của chính quyền địa phương.

Thế nhưng, những quy định trong Nghị quyết 68 với nhóm này chưa cụ thể. Cần xác định rằng nhóm lao động tự do là nhóm khó thống kê, xác định đối tượng nhất. Bên cạnh đó, việc xác định trách nhiệm và nguồn ngân sách hỗ trợ sao cho hợp lý có lẽ cũng là yếu tố khó khăn để thực hiện được Nghị quyết với nhóm đối tượng này.

Những vấn đề đó nếu không có hướng dẫn để giải quyết được có thể sẽ dẫn đến một nguy cơ là có chính sách nhưng không thể triển khai được một cách đầy đủ và hiệu quả. Riêng đối với các nhóm lao động tự do di cư, nếu không cẩn thận còn có thể xuất hiện tình trạng “đùn đẩy” lẫn nhau trong trách nhiệm giữa các địa phương và các bên liên quan…

Do đó để thực hiện được chính sách này thì trên cơ sở của Nghị quyết 68, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cần sớm ban hành hướng dẫn chi tiết thực hiện, trong đó nhóm đối tượng lao động tự do cần phải quy định một cách chi tiết hơn, từ cách thức lựa chọn lẫn trách nhiệm của chính quyền địa phương.

Cụ thể là gì, thưa ông?

Đầu tiên là phải phân tách các đối tượng. Cụ thể, nhóm đối tượng này cần chia ra hai loại: Một là lao động tự do tại địa phương. Nghĩa là họ vẫn sinh sống và làm việc (tự do) trên địa bàn một tỉnh; Hai là lao động tự do từ địa phương này đến các địa phương khác để sinh sống và làm việc (hay còn gọi là lao động tự do nhập cư).

Đối với đối tượng lao động tự do ngay tại mỗi địa phương sẽ dễ dàng thống kê, xác định hơn bởi vì họ vừa sống, vừa làm việc ở ngay chính địa phương đó. Các địa phương thông qua hệ thống (bao gồm hệ thống của chính quyền sở tại địa phương như Ủy ban xã, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, mặt trận và đoàn thể…) sẽ dễ dàng thu thập và thống nhất được danh sách những đối tượng này.

Theo tôi với nhóm đối tượng này, địa phương nên thành lập một tổ công tác gồm các thành phần như trên và giao cho một đơn vị chủ trì đứng ra làm đầu mối (có thể là UBND xã hoặc Mặt trận Tổ quốc) để lập danh sách thống kê xem trên địa bàn của mình có bao nhiêu người là lao động tự do trong tỉnh. Sau khi lập được dự thảo danh sách đó sẽ tổ chức cuộc họp tổ công tác để rà soát xem danh sách nhóm đối tượng như vậy đã chính xác hay chưa và tổng hợp lên quận, huyện, tỉnh thì sẽ có được danh sách tổng hợp cuối cùng của từng tỉnh để hỗ trợ theo tinh thần của Nghị quyết 68.

ho tro lao dong tu do ro doi tuong va trach nhiem
Cần phối hợp để xác định chính xác lao động tự do di cư

Còn đối với lao động tự do nhập cư thì cách làm sẽ thế nào?

Để xác định được đúng nhóm đối tượng này thì cần có phương án làm song song để kiểm tra, đối chiếu chéo được giữa hai bên (thống kê của tỉnh có lao động đi và của tỉnh, thành phố có lao động đến).

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng nên giao Bộ Lao động - Thương binh và xã hội xây dựng một cơ sở dữ liệu để theo dõi và báo cáo chung cho tất cả các tỉnh thành, thống kê theo thời gian thực, với các thông tin liên tục cập nhật về người lao động tự do theo các kênh như trên. Như vậy thì sẽ tránh được việc trùng lặp do khi lập danh sách hỗ trợ đối với người lao động di cư ở các địa bàn/tỉnh khác nhau. Đây cũng sẽ là tiền đề cho việc xây dựng một cơ sở dữ liệu số toàn dân về sau.

Riêng với nhóm lao động tự do nhập cư này thì câu chuyện kinh phí chi hỗ trợ sẽ liên quan đến nhiều bên. Vậy giải quyết cách nào, theo ông?

Đây là vấn đề rất đáng quan tâm, bởi không cẩn thận dễ sẽ có hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm giữa các địa phương. Câu hỏi đặt ra là với nhóm này thì phần kinh phí hỗ trợ ai sẽ có trách nhiệm? Đơn cử, có thể xảy ra tình huống người lao động ở tỉnh A đến lao động tự do ở tỉnh hoặc thành phố B, vậy thì trách nhiệm tỉnh A hay thành phố B sẽ hỗ trợ cho họ? Vấn đề này cần làm được rõ để tránh làm khó cho khâu thực hiện cũng như tránh để xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.

Theo kiến nghị của chúng tôi, cách làm tốt nhất là dựa trên số liệu tổng hợp về số người lao động tự do nhập cư ở các địa phương, cộng với dự toán ngân sách nhà nước và khả năng đáp ứng ngân sách nhà nước của các địa phương liên quan, hai Bộ Lao động - Thương binh và xã hội và Bộ Tài chính cần phối hợp nhau để đề xuất sử dụng ngân sách trung ương hoặc đưa ra quyết định phân bổ trách nhiệm đóng góp chi hỗ trợ của mỗi cặp địa phương liên quan (địa phương có lao động đi và địa phương có lao động đến) dựa trên tình hình ngân sách nhà nước ở mỗi địa phương. Tức là chúng ta sẽ cần một quyết định phân bổ từ trên xuống chứ không nên để cho các địa phương tự phân bổ (trừ trường hợp họ tự nguyện và thống nhất được với nhau) để tình trạng đùn đẩy trách nhiệm cho nhau giữa các địa phương.

Nhưng trong trường hợp có số lượng lớn lao động tự do nhập cư xuất phát từ các địa phương đặc biệt khó khăn về ngân sách (mà lâu nay ngân sách trung ương vẫn phải hỗ trợ) thì ngân sách trung ương có cần hỗ trợ các địa phương này?

Dù ngân sách trung ương hiện rất khó khăn nhưng tôi cho rằng đây cũng là một vấn đề cần tính tới. Đối với các địa phương mà thu ngân sách quá khó khăn thì ngân sách trung ương nên hỗ trợ, trên cơ sở sau khi có quyết định phân bổ trách nhiệm đóng góp chi hỗ trợ được đưa ra.

Xin cảm ơn ông!

(Thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/05/2020 của Chính phủ)

Đỗ Lê thực hiện

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800