Hỗ trợ sản xuất kinh doanh: Cần một gói giải pháp đồng bộ

18:47 | 04/05/2012

Trước bối cảnh cầu trong nước sụt giảm, sản xuất kinh doanh đang bị đình trệ trên một diện khá rộng, vấn đề có một gói giải pháp đồng bộ để hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh, giúp nền kinh tế vượt qua đáy khó khăn hiện nay là điều cần thiết.

Đây là quan điểm được TS. Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương chia sẻ với phóng viên Thời báo Ngân hàng.

Hiện sản xuất đang có dấu hiệu đình trệ. Phải chăng nền kinh tế đang rơi vào tình trạng đình lạm, thưa ông?

TS. Võ Trí Thành

Nếu vào thời điểm cuối năm 2011 có lẽ đúng là như thế. Song với diễn biến như hiện nay thì không hẳn vậy. Hiện lạm phát đang có xu hướng giảm nhanh (lạm phát theo năm vào tháng 4 còn 10,5% và nhiều khả năng xuống khoảng 9% vào tháng 5 so với trên 18% vào tháng 12/2011) chứ không phải là đang dâng cao. Tuy nhiên đúng là sản xuất kinh doanh đang bị đình trệ; sự đình trệ này diễn ra trên một diện khá rộng, ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng, một số ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ.

Nguyên nhân khiến sản xuất kinh doanh bị đình trệ chủ yếu do sức cầu, đặc biệt là cầu trong nước sụt giảm mạnh. Cũng chính vì sức cầu sụt giảm nên CPI tháng 3, tháng 4 mới tăng thấp như vậy cho dù giá xăng dầu được điều chỉnh khá mạnh hồi đầu tháng 3.

Sức mua yếu khiến hàng sản xuất ra không tiêu thụ được, hàng tồn kho tăng nhanh, trong khi chi phí sản xuất tăng, mặt bằng lãi suất vẫn đứng ở mức cao đẩy nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng càng sản xuất, càng thua lỗ, nên không dám tiếp tục hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh. Thậm chí nhiều doanh nghiệp chọn giải pháp tạm ngừng hoạt động.

Bởi vậy, bên cạnh mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô cũng cần thực sự hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.

Liệu có cần triển khai một gói kích cầu giống như thời điểm năm 2009 không, thưa ông?

Theo tôi không thể có một gói lớn và cả cách thức hỗ trợ như năm 2009 được, bởi 4 lý do:

Thứ nhất, chúng ta không có được nguồn lực như 2009, chưa kể còn phải dành nguồn lực cho việc tái cấu trúc nền kinh tế, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, trong đó có vấn đề xử lý nợ xấu.

Thứ hai, mặc dù các cân đối vĩ mô đã được cải thiện như lạm phát giảm tốc mạnh, thâm hụt thương mại ở mức thấp, cán cân thanh toán thặng dư, dự trữ quốc gia tăng... Tuy nhiên vẫn cần duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì lòng tin vào sự ổn định ấy.

Thứ ba, chúng ta cũng cần phải bắt tay vào tái cấu trúc, phân bổ lại nguồn lực theo hướng hiệu quả. Điều đó có nghĩa sẽ phải loại bỏ những bộ phận, những thành tố nào đó tạm gọi là gây bất ổn cho nền kinh tế trong thời gian qua. Vì vậy,  không thể hỗ trợ, giải cứu đại trà được.

Điểm cuối cùng rất quan trọng là những khó khăn hiện nay có 2 điểm khác cơ bản so với năm 2009. Quý I/2009, tăng trưởng chỉ đạt 3,1% tuy nhiên, thời điểm đó sức khỏe của doanh nghiệp còn tốt hơn bây giờ rất nhiều và khó khăn chủ yếu do tổng cầu bên ngoài sụt giảm. Còn bây giờ, mặc dù cầu bên ngoài tuy không được như năm trước, song còn khá hơn nhiều thời điểm năm 2009. Thế nhưng, cầu trong nước sụt giảm rất mạnh cả về tiêu dùng và đầu tư, trong khi "sức khỏe" của doanh nghiệp cũng không còn được như trước.


Sẽ có nhiều giải pháp để hỗ trợ DN phát triển SX. (Ảnh: MH)

Theo quan điểm của ông, giảm lãi suất chừng đó đã đủ để hỗ trợ doanh nghiệp?

Như trên tôi đã phân tích, với những khó khăn hiện nay, cần một gói giải pháp đồng bộ mới có thể vực dậy được sản xuất kinh doanh, trong đó hạ lãi suất chỉ là một giải pháp.

Còn liên quan đến việc hạ lãi suất, điều đó chắc chắn sẽ diễn ra. Vừa qua NHNN cũng đã 2 lần giảm lãi suất rồi. Song điều quan trọng là khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp hiện nay rất yếu. Một phần do nợ đọng; một phần do hàng sản xuất ra không tiêu thụ được thì vay vốn để làm gì cho dù lãi suất có hạ. Vì vậy vấn đề hiện nay là phải tăng khả năng tiếp cận tín dụng đi đôi với việc nâng cao khả  năng hấp thụ vốn cho doanh nghiệp.

Điều này về phía NHNN cũng đã thực hiện một phần như yêu cầu các TCTD cơ cấu lại nợ, khoanh nợ đối với những khó khăn vì lý do khách quan; tiếp tục cho vay mới đối với những nhu cầu vốn hiệu quả, đảm bảo khả năng trả nợ... Việc làm này cùng với mặt bằng lãi suất có xu hướng hạ thấp sẽ khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư, khôi phục sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh đó là các giải pháp về thuế. Cùng với việc giãn thuế, sắp tới Chính phủ cũng nên cân nhắc việc miễn, giảm thuế cho doanh nghiệp.

Ngoài ra cũng cần tăng khả năng tiếp cận của doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, DNNVV đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ODA, vốn trái phiếu Chính phủ.

Để kích cầu tiêu dùng, bên cạnh việc tăng lương, cho vay tiêu dùng, cũng cần xem xét miễn giảm thuế thu nhập cá nhân, giảm thuế VAT (đối với một số mặt hàng)... Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh việc giải ngân vốn ODA, vốn trái phiếu Chính phủ đầu tư vào hạ tầng, nông thôn để kích cầu khu vực này. Và một yếu tố kích cầu khác cũng rất quan trọng là xúc tiến thương mại để đẩy mạnh xuất khẩu…

Một vấn đề quan trọng nữa là duy trì lòng tin vào sự ổn định kinh tế vĩ mô. Đây là yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư  nước ngoài cả trực tiếp (FDI) và gián tiếp (FII). Lòng tin tăng lên cũng có tác dụng thúc đẩy tiêu dùng, đầu tư, đẩy nhanh tốc độ vòng quay đồng tiền, qua đó kích thích sản xuất kinh doanh tốt hơn.

Vậy rủi ro vĩ mô hiện nay là gì, thưa ông?

Như trên tôi đã nói, mặc dù hiện nay các cân đối vĩ mô đã tốt hơn rất nhiều, nhưng rủi ro vẫn còn hiện hữu, nhất là trong hệ thống tài chính - ngân hàng. Bên cạnh đó, sản xuất đình trệ, tăng trưởng thấp... và đằng sau đó là câu chuyện an sinh xã hội.

Còn lạm phát thì sao, thưa ông? Tác động cộng hưởng của 2 đợt tăng giá xăng liên tiếp thời gian qua cộng với việc tăng lương cơ bản từ 1/5, chắc chắn sẽ tác động đến lạm phát, trong khi điện, than cũng đang rục rịch đòi tăng giá?

Những dự báo thời gian trước và ngay cả những dự báo gần đây đều cho rằng lạm phát trong năm nay là dưới 10%. Chẳng hạn, hồi tháng 4 vừa qua, IMF cũng dự báo lạm phát của Việt Nam trong năm nay khoảng 9,5%. Rất nhiều chuyên gia cũng cho rằng mục tiêu lạm phát dưới 10% năm nay là khả thi. Tuy nhiên, cũng cần cẩn trọng. Thứ nhất, với những cú sốc từ bên ngoài, đặc biệt là vấn đề giá xăng dầu. Thứ  hai, những cú sốc bên trong. Ví dụ như việc phải tăng giá xăng, tăng giá điện, tăng lương khoảng trên 20%.

Về các cú sốc bên ngoài là khó có khả năng xảy ra. Nhiều dự báo gần đây đều cho thấy, giá dầu khó có thể tăng mạnh, mà sẽ tương đối ổn định trong năm nay do tăng trưởng kinh tế thế giới vẫn yếu. Trong khi đó, ở trong nước, với sức cầu hiện nay, nhìn trên cả góc độ tiêu dùng lẫn đầu tư, thì việc tăng lương và tăng giá xăng như vừa rồi, hay có thể tăng giá điện thời gian tới thì vẫn có thể giữ mức lạm phát dưới 10%.

Tuy nhiên, việc tăng giá các mặt hàng thiết yếu như điện, than, xăng dầu thế nào cũng cần phải tính toán kỹ và có lộ trình hợp lý, bởi vấn đề không chỉ là kiềm chế lạm phát, cái quan trọng hơn là hạn chế chi phí đẩy trong sản xuất kinh doanh vốn đang khó khăn như hiện nay.

Trong bối cảnh hiện nay, việc điều hành chính sách, đặc biệt là tiền tệ - tài khóa cần đi theo hướng nào, thưa ông?

Mục tiêu xuyên suốt vẫn là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, song cũng cần phải thực sự hỗ trợ phục hồi sản xuất kinh doanh. Để làm được điều này đòi hỏi một nghệ thuật điều hành linh hoạt. Chẳng hạn, với tình hình hiện nay, chúng ta có thể kéo lạm phát xuống mức 5-6%, song điều đó sẽ đẩy sản xuất kinh doanh lâm vào tình  trạng khó khăn hơn. Mục tiêu lạm phát khoảng trên dưới 9% năm nay là phù hợp.

Theo đó, chính sách tài khóa, tiền tệ vẫn phải được điều hành tương đối chặt chẽ mặc dù ít nhiều có thể nới lỏng hơn so với 2011, đồng thời lại phải linh hoạt và khôn khéo để có nhiều giải pháp, biện pháp hỗ trợ sản xuất kinh doanh phục hồi. Rất nhiều dự báo quốc tế hiện nay cho rằng tăng trưởng của Việt Nam chỉ quanh khoảng 5,5%. Điều đó cũng hàm ý các chính sách không thể nới lỏng quá nhanh và quá mạnh được.

Lưu ý là mục tiêu chính sách tiền tệ, tài khóa cũng đã nới hơn so với năm 2011. Chẳng hạn năm 2011, tăng trưởng tín dụng chỉ là 12-13% thì năm nay mục tiêu là 15-17%. Năm 2011 thâm hụt ngân sách là 4,5% GDP thì mục tiêu năm nay là 4,8% GDP. Dư địa ít nhiều có; vấn đề là điều hành.

Hiện nhiều quan điểm cho rằng, chính sách tài khóa nên siết chặt, còn chính sách tiền tệ nên lỏng hơn. Có như vậy mới ngăn ngừa được lạm phát trong khi vẫn hỗ trợ được doanh nghiệp?

Tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ và tài khóa là rất quan trọng để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô cũng như hỗ trợ sản xuất kinh doanh.

Liên quan đến vấn đề đầu tư công. Hiện phần đầu tư từ vốn ngân sách đã có chỉ tiêu và cũng khó có thể điều chỉnh nhiều. Tuy nhiên, phần đầu tư từ nguồn vốn trái phiếu chính phủ được lên kế hoạch trong trung hạn, cho nên hoàn toàn có thể điều chỉnh linh hoạt hơn trong từng thời điểm chứ không hoàn toàn chỉ là chia đều. Theo đó, cần kiên quyết cắt giảm, đình hoãn những dự án chưa thật sự cần thiết để tập trung vốn cho những dự án quan trọng và đặc biệt là những dự án có hiệu quả lan tỏa tốt, nhất là đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực DNNVV.

Xin cảm ơn ông!

Đỗ Lê thực hiện

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.135 23.305 24.649 25.776 29.741 30.369 204,47 213,82
BIDV 23.170 23.310 24.991 25.750 29.865 30.468 205,58 213,23
VietinBank 23.159 23.309 24.912 25.747 29.804 30.444 208,70 214,70
Agribank 23.185 23.290 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.160 23.290 24.945 25.312 29.9936 30.376 209,76 212,84
ACB 23.160 23.290 24.951 25.305 30.026 30.376 209,96 212,94
Sacombank 23.136 23.340 24.953 25.414 29.995 30.400 209,14 213,72
Techcombank 23.155 23.315 24.707 25.670 29.610 30.562 208,52 215,32
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.860 25.369 29.973 30.430 209,36 213,39
DongA Bank 23.190 23.280 24.980 25.290 29.950 30.350 206,50 212,30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
44.250
44.570
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.250
44.550
Vàng SJC 5c
44.250
44.570
Vàng nhẫn 9999
44.200
44.700
Vàng nữ trang 9999
43.750
44.550