Hoạt động sản xuất của Trung Quốc tăng nhanh trong tháng Ba

10:31 | 31/03/2021

Hoạt động sản xuất của Trung Quốc trong tháng Ba đã tăng tốc nhanh nhất trong 3 tháng gần đây, khi các nhà máy tăng cường sản xuất sau thời gian nghỉ Tết Nguyên đán, trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu cải thiện. Điều này tiếp thêm động lực cho sự phục hồi vững chắc của nền kinh tế thứ hai thế giới.

hoat dong san xuat cua trung quoc tang nhanh trong thang ba

Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc đã tăng lên 51,9 điểm trong tháng Ba, từ mức 50,6 điểm vào tháng Hai, dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia (NBS) cho biết sáng nay. Như vậy, chỉ số này đã duy trì trên mốc 50 điểm trong tháng thứ 13 liên tiếp.

Lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc thường không có hoạt động trong kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, nhưng năm nay hàng triệu công nhân đã ở lại làm việc do lo ngại lây nhiễm COVID-19, dẫn đến việc các nhà máy phải nối lại hoạt động sản xuất sớm hơn bình thường.

Các nhà chức trách Trung Quốc đã ngăn chặn thành công sự lây truyền vi-rút trong cộng đồng suốt mùa đông, dẫn đến các hạn chế về kiểm dịch và yêu cầu xét nghiệm được thu hẹp trở lại, khi cuộc sống một lần nữa trở lại bình thường.

Chỉ số PMI chính thức, chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp lớn và thuộc sở hữu nhà nước, cũng cho thấy chỉ số phụ về sản xuất đứng ở mức cao nhất kể từ tháng 12, trong khi đơn đặt hàng mới cũng tăng nhanh nhất trong ba tháng.

Thêm vào động lực tích cực, đơn đặt hàng xuất khẩu tăng trở lại trong bối cảnh nhu cầu thế giới cải thiện, cuộc khảo sát cho thấy.

Trung Quốc đã cơ bản kiểm soát được đại dịch COVID-19 sớm hơn nhiều nước, khi các nhà chức trách áp đặt các biện pháp ngăn chặn và hạn chế chống vi-rút nghiêm ngặt ngay ở giai đoạn đầu của các đợt bùng phát.

Điều đó đã giúp nền kinh tế của nước này có sự thay đổi nhanh chóng sau khi sụt giảm vào đầu năm 2020, dẫn đầu bởi sự tăng trưởng xuất khẩu phục hồi khi các nhà máy chạy đua đáp ứng các đơn đặt hàng ở nước ngoài. Giá bán sản phẩm tại nhà máy đã tăng với tốc độ nhanh nhất trong hơn hai năm, trong khi sản lượng công nghiệp cũng tăng mạnh.

Sự gia tăng các ca lây nhiễm COVID-19 ở nhiều nước khác và tình trạng tắc nghẽn hậu cần đã khiến một số công ty được khảo sát phải vật lộn với việc nhập khẩu không đủ nguyên liệu thô, dẫn đến thời gian giao hàng kéo dài, Zhao Qinghe, một quan chức cấp cao của NBS nói khi công bố dữ liệu.

Bắc Kinh đã đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 6% trong năm nay, thấp hơn nhiều so với kỳ vọng của các nhà phân tích là hơn 8%. Thủ tướng Lý Khắc Cường cho biết các chính sách sẽ không được nới lỏng đáng kể để thúc đẩy tăng trưởng cao hơn, đồng thời nói thêm rằng trọng tâm hiện nay là củng cố sự phục hồi kinh tế.

Trung Quốc là nền kinh tế lớn duy nhất đạt tăng trưởng vào năm ngoái với mức mở rộng là 2,3%, nhưng đây vẫn là tốc độ tăng trưởng hàng năm yếu nhất trong hơn 40 năm, do chịu ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19.

Một cuộc khảo sát độc lập cho biết tăng trưởng trong lĩnh vực dịch vụ của Trung Quốc đã cải thiện đáng kể trong tháng Ba, khi người tiêu dùng mở hầu bao sau nhiều tháng do dự.

Chỉ số PMI tổng hợp chính thức, bao gồm cả hoạt động sản xuất và phi sản xuất, đã tăng lên 55,3 điểm trong tháng Ba, từ mức 51,6 điểm của tháng Hai.

Chỉ số phụ cho hoạt động trong lĩnh vực xây dựng đứng ở mức 62,3 điểm khi thời tiết ấm lên, so với mức 54,7 điểm trong tháng Hai.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.964 23.174 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.974 23.186 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.970 23.170 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
54.900
55.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
54.900
55.300
Vàng SJC 5c
54.900
55.320
Vàng nhẫn 9999
50.850
51.450
Vàng nữ trang 9999
50.450
51.150