Hoạt động sản xuất tại Trung Quốc cải thiện tháng thứ 5 liên tiếp

10:13 | 31/07/2020

Hoạt động sản xuất tại Trung Quốc tiếp tục cải thiện trong tháng Bảy, tháng thứ năm liên tiếp và với tốc độ nhanh hơn, vượt kỳ vọng của các nhà phân tích bất chấp sự gián đoạn từ lũ lụt và tăng trở lại các trường hợp lây nhiễm virus trên toàn thế giới.

Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc đã tăng lên 51,1 điểm trong tháng Bảy từ 50,9 điểm của tháng Sáu, dữ liệu chính thức vừa được công bố sáng nay cho biết, đánh dấu mức điểm cao nhất kể từ tháng 3.

Kết quả này cao hơn dự báo của các nhà phân tích rằng PMI tại Trung Quốc sẽ chậm lại ở mức 50,7 điểm trong tháng này.

50 điểm là ngưỡng phân tách giữa sự mở rộng với co lại của lĩnh vực sản xuất trong so sánh giữa các tháng liền kề.

hoat dong san xuat tai trung quoc cai thien thang thu 5 lien tiep

Trung Quốc đã nỗ lực để phục hồi các ngành sản xuất sau giai đoạn phong tỏa chặt chẽ để kiểm soát dịch bệnh, dẫn đến nhiều tuần tê liệt kinh tế.

Tuy nhiên, kết quả cải thiện PMI tháng này là khá bất ngờ trong bối cảnh nền kinh tế số một châu Á đang phải đối phó với sự trở lại mạnh mẽ của dịch Covid-19, đặc biệt là ở khu vực phía tây Tân Cương và Đông Bắc.

Đơn đặt hàng xuất khẩu mới giảm mặc dù với tốc độ chậm hơn so với tháng trước, cho thấy áp lực lên ngành sản xuất tiếp tục đến từ nhu cầu bên ngoài yếu. Các công ty tiếp tục sa thải nhiều nhân viên hơn so với thuê mới, mặc dù tốc độ sa thải tương đối thấp. Sản lượng ngành sản xuất tăng lên mức cao nhất trong bốn tháng.

Một cuộc thăm dò ý kiến của Reuters trong tháng này đưa đến dự báo GDP của Trung Quốc sẽ tăng 2,2% trong năm 2020, cải thiện so với mức 1,8% được đưa ra sau cuộc thăm dò gần nhất vào tháng Tư. Dữ liệu cải thiện gần đây củng cố triển vọng lạc quan hơn.

Các dữ liệu về thương mại, giá sản xuất... hiện tại đều đưa đến dự đoán về sự gia tăng trong sản xuất, nhưng các nhà phân tích cho rằng các nhà máy tại Trung Quốc vẫn có thể gặp khó khăn trong việc duy trì động lực, khi nhu cầu bị tiết giảm và lũ lụt lớn làm gián đoạn hoạt động kinh tế.

Nhập khẩu vào tháng 6 đã tăng lần đầu tiên kể từ khi cuộc khủng hoảng sức khỏe tấn công nền kinh tế, mà nguyên nhân là do các chính sách hỗ trợ của chính phủ đã kích thích nhu cầu hàng hóa cải thiện. Trong khi đó, xuất khẩu cũng tăng nhờ được thúc đẩy bởi hàng hóa y tế.

Lợi nhuận tại các công ty công nghiệp lớn của Trung Quốc tháng qua cũng tăng với tốc độ nhanh nhất trong vòng một năm nay nhờ các doanh nghiệp tiết giảm chi phí trong khi nhu cầu thị trường cải thiện.

Tuy nhiên, tác động kinh tế toàn cầu từ Covid-19 vẫn khiến các nhà máy tại Trung Quốc hoạt động dưới tiềm năng, trong bối cảnh nhu cầu chùng xuống. Giá bán nhà sản xuất vào tháng Sáu giảm tháng thứ năm liên tiếp nhưng với tốc độ giảm chậm hơn dự kiến.

"Chúng tôi tin rằng Bắc Kinh có thể sẽ duy trì lập trường nới lỏng trong suốt phần còn lại của năm nay, vì nền kinh tế vẫn còn lâu mới hồi phục hoàn toàn và đối mặt với sự không chắc chắn tăng cao", các nhà phân tích của Nomura viết trong một bản tin phát hành hôm thứ Ba.

M.Hồng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250