Hội đồng tư vấn: Cần tăng cường nội lực để đối phó với biến động bên ngoài

18:26 | 02/07/2019

Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia đề xuất với Chính phủ chưa cần phải thay đổi chính sách tiền tệ, tài chính mà cần thúc đẩy hơn nữa ổn định kinh tế vĩ mô, gia tăng nội lực của nền kinh tế.

WB giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam, đạt 6,6% trong năm 2019
Tín dụng tăng trưởng hợp lý, bám sát mục tiêu
Tăng trưởng tín dụng đạt 6,22%, cao hơn cùng kỳ năm trước
GDP quý II/2019 giảm tốc, tăng 6,71%

Chiều 2/7, tại Trụ sở Ngân hàng Nhà nước, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Chủ tịch Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia đã chủ trì phiên họp thường kỳ quý II/2019 của Hội đồng.

Cuộc họp nhằm tham vấn ý kiến các chuyên gia kinh tế về chính sách kinh tế vĩ mô, phục vụ cho phiên họp Chính phủ với các địa phương diễn ra vào vài hôm tới.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ phát biểu tại phiên họp.

Phó Thủ tướng, Chủ tịch Hội đồng Vương Đình Huệ đề nghị các thành viên tập trung đánh giá tình hình trong nước và thế giới 6 tháng qua và dự báo từ nay tới cuối năm, tính tới các rủi ro liên quan tới các động thái quốc tế gần đây về thương mại, dịch bệnh, thiên tai...

“Thủ tướng đặt hàng cho Hội đồng kiến nghị tới Chính phủ có cần bổ sung hay điều chỉnh chính sách vĩ mô trong thời gian tới không? Trên tinh thần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và giữ được đà tăng trưởng”, Phó Thủ tướng nói.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, kinh tế thế giới trong 6 tháng đầu năm 2019 tăng chậm hơn dự kiến (riêng Hoa Kỳ tăng trưởng mạnh hơn 3%), rủi ro và bất ổn gia tăng trong điều kiện xung đột thương mại giữa các nền kinh tế lớn leo thang và tiến trình Brexit bế tắc. Thị trường tài chính, tiền tệ biến động phức tạp khi các ngân hàng Trung ương có xu hướng giảm lãi suất vì rủi ro gia tăng.

Ở trong nước, tăng trưởng kinh tế nửa đầu năm 2019 đạt 6,76% thấp hơn năm 2018 nhưng vẫn phù hợp với mục tiêu điều hành. Lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát, khi bình quân 6 tháng tăng 2,64%, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu (dưới) 4% của Chính phủ...

Đặc biệt, Ngân hàng Nhà nước nhìn nhận xuất hiện một số động lực tăng trưởng mới trong lĩnh vực chế biến chế tạo như Lọc hoá dầu Nghi Sơn, thép Formosa, xe có động cơ Vinfast...

Thống đốc Lê Minh Hưng và Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng tham dự phiên họp.

Trong khi đó, Bộ Tài chính cho biết thu ngân sách đạt khá với 53% kế hoạch, nhưng chi ngân sách chậm, trong đó có giải ngân vốn đầu tư công vẫn chậm khiến bội thu ngân sách nhà nước chứ không bị thâm hụt ngân sách nhà nước như năm ngoái, góp phần giảm bội chi và nợ công. Nợ công ở mức 57-58% GDP, nợ Chính phủ khoảng 49% GDP và trái phiếu Chính phủ là công cụ tài khoá quan trọng khi thời hạn vay trung bình cao lên tới 13,7 năm với lãi suất thấp 4,6%/năm.

Còn Bộ Công Thương cho biết hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá đạt khá trong bối cảnh nhiều nước tăng trưởng âm ở lĩnh vực này. Đây là nỗ lực rất lớn của cộng đồng doanh nghiệp. Thu hút và giải ngân vốn FDI tiếp tục tăng.

Trước việc Hoa Kỳ mở rộng danh sách các quốc gia cần giám sát từ 12 quốc gia lên 21 quốc gia, trong đó có Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp làm việc với Bộ Tài chính Hoa Kỳ, khẳng định chính sách tiền tệ của Việt Nam nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng hợp lý; điều hành tỷ giá linh hoạt phù hợp với diễn biến thị trường và đặc thù của Việt Nam chứ không tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước tích cực thực hiện truyền thông kịp thời để ổn định tình hình thị trường trong nước.

Tuy nhiên, thách thức với tăng trưởng GDP trong năm 2019 là không nhỏ khi các động lực tăng trưởng như nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đều tăng chậm hơn năm 2018; xuất khẩu có xu hướng giảm tăng trưởng; cán cân vãng lai cao nhưng chủ yếu phụ thuộc từ kiều hối nên chưa bền vững; tốc độ tăng trưởng dịch vụ thấp hơn tăng trưởng GDP; ách tắc các dự án hợp tác công tư và các dự án đầu tư của tư nhân...Tại phiên họp, các thành viên Hội đồng cho rằng tới thời điểm này, chưa có dấu hiệu rủi ro về ổn định kinh tế vĩ mô so với các giai đoạn trước đây; đánh giá cao kết quả đạt được về kinh tế - xã hội, nhất là trong 6 tháng đầu năm 2019.

Các thành viên đề xuất Chính phủ tiếp tục theo dõi sát các diễn biến về thương mại, đầu tư trên thế giới để ổn định vĩ mô, đồng thời tăng cường nội lực để ứng phó với các tác động từ bên ngoài; một mặt tạo thuận lợi thương mại nhưng cũng phải kiểm soát chặt chẽ gian lận thương mại.

Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước quan tâm tới việc dự báo xuất hiện các đồng tiền ảo mới trên thế giới sẽ tác động mạnh mẽ tới chính sách tài khoá, tiền tệ của các nước, trong đó có Việt Nam; sớm ban hành các quy định pháp luật về thanh toán không dùng tiền mặt.

Hoàn thiện hệ thống luật pháp về đầu tư, doanh nghiệp, hợp tác công - tư, chứng khoán; nghiên cứu xây dựng chính sách hiện đại hơn với các công cụ quyền chọn mua, chọn bán.

Bên cạnh đó, tranh thủ điều chỉnh giá dịch vụ công trong năm nay khi lạm phát đang kiểm soát thấp; đánh giá sát thực hơn thị trường bất động sản...

Thành Chung

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.420
Vàng SJC 5c
41.200
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.190
41.610
Vàng nữ trang 9999
40.640
41.440