ICAEW: Tăng trưởng GDP của Việt Nam năm nay có thể đạt 7,6%

18:58 | 08/06/2021

Viện Kế toán Công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW) và Oxford Economics vừa công bố Báo cáo Triển vọng kinh tế khu vực Đông Nam Á mới nhất. Theo báo cáo, dù COVID-19 bùng phát trở lại nhưng triển vọng tăng trưởng của Việt Nam vẫn lạc quan và với dự báo GDP có thể đạt 7,6% trong năm 2021, cao nhất khu vực.

Theo báo cáo, Việt Nam là một trong số ít nền kinh tế trên thế giới tăng trưởng dương trong năm 2020 nhờ thành công trong việc chống dịch. Thành công sớm này giúp nền kinh tế hưởng lợi từ sự gia tăng hoạt động kinh doanh toàn cầu và nhận đầu tư nước ngoài (FDI) mạnh mẽ, qua đó thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến chế tạo và hoạt động xuất khẩu.

Cùng với Singapore, Việt Nam kỳ vọng tiếp tục dẫn đầu về phục hồi kinh tế trong khu vực. Dù sự trở lại của các ca COVID-19 ở Việt Nam đang ảnh hưởng đến các ngành sản xuất và xuất khẩu, kinh tế Việt Nam dự báo vẫn tăng nhanh một khi các hạn chế liên quan đến đợt dịch thứ 4 được dỡ bỏ.

icaew tang truong gdp viet nam nam nay co the dat 76

Tương tự, thành công của Singapore trong việc triển khai vắc-xin đóng góp lớn vào triển vọng lạc quan của đảo quốc này, là nước duy nhất trong khu vực hy vọng đạt được miễn dịch cộng đồng cuối 2021. GDP của Singapore ước sẽ tăng 6,4% trong năm nay, sau khi sụt giảm 5,4% trong năm 2020.

GDP của cả khu vực Đông Nam Á dự báo cũng phục hồi mạnh ở mức 4,8% trong năm nay nhờ những cải thiện trong các hoạt động kinh doanh toàn cầu, kinh tế vĩ mô ổn định và các hỗ trợ liên tục từ ngân sách chính phủ và lãi suất thấp trong toàn khu vực.

Tăng trưởng của khu vực được dự báo sẽ lên đến 6,5% trong năm 2022 khi các nước dần đạt ngưỡng miễn dịch cộng đồng và sự phục hồi sẽ đồng bộ hơn trong toàn thể các ngành kinh tế.

Tuy nhiên, các nền kinh tế Đông Nam Á sẽ tiếp tục chứng kiến tốc độ hồi phục khác nhau trong năm 2021, được dẫn dắt bởi năng lực của các quốc gia trong việc khống chế làn sóng lây nhiễm COVID-19 mới và thành công của họ trong việc mua và phân phối vắc-xin.

“Bất ổn vẫn còn đó do mức độ hồi phục phụ thuộc vào tiến độ triển khai vắc-xin và khả năng phong tỏa, giãn cách xã hội cao hay thấp trong ngắn hạn. Tuy vậy, Báo cáo triển vọng kinh tế cho rằng đa phần các nền kinh tế Đông Nam Á sẽ phục hồi nhanh nửa cuối năm 2021, đồng thời lạc quan về triển vọng hồi phục toàn Đông Nam Á trong trung hạn và dài hạn”, Sian Fenner, trưởng nhóm chuyên gia kinh tế châu Á của Oxford Economics, nhận định.

Tăng trưởng GDP của hầu hết các nền kinh tế trong khu vực trong quý II ước tính sẽ yếu hơn trong quý I, do các hạn chế khắt khe hơn sẽ ảnh hưởng đến các ngành vốn đã bị ảnh hưởng tiêu cực do giãn cách xã hội hoặc tiêu dùng gia đình giảm.

Dù đối mặt với nhiều thách thức, các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô và sự gia tăng kinh doanh trên thế giới giúp đa phần Đông Nam Á vẫn sẽ đạt tăng trưởng GDP ấn tượng trong năm nay. Việc nới lỏng các hạn chế trong tháng Sáu và tháng Bảy ở đa số các nước sẽ thúc đẩy cải thiện kinh tế trong nửa cuối năm nay.

Ngoài Philippines và Thái Lan, hầu hết các nền kinh tế Đông Nam Á hy vọng sẽ trở lại mức tăng trưởng như trước đại dịch COVID-19 trong năm nay, trong đó Singapore và Malaysia sẽ ghi nhận mức tăng GDP từ 2% đến 2,5% cao hơn so mức trước COVID-19.

Các đợt phong tỏa mới đây tại Singapore, Việt Nam và Malaysia cho thấy tiêu dùng gia đình giảm trong quý II/2021. Tuy nhiên, mức giảm không nhiều do các hộ và các doanh nghiệp đã trang bị số hóa nhằm tăng khả năng làm việc và mua bán từ xa. Các chính phủ cũng dùng nhiều hơn các biện pháp có chủ đích hơn là phong tỏa cả nước nhằm tối giảm việc gián đoạn sản xuất.

“Trong lúc mọi nền kinh tế Đông Nam Á đều chịu một đợt gia tăng các ca COVID-19 từ đầu năm 2021 dẫn đến việc thực thi các biện pháp giãn cách xã hội, điều này tuy có làm suy yếu nhưng không ngăn cản được năng lực hồi phục kinh tế toàn khu vực”, ông Mark Billington, Giám đốc điều hành quốc tế của ICAEW, nói.

“Sự quyết tâm và tốc độ tiêm vắc-xin của các quốc gia sẽ tiếp tục là thước đo quan trọng cho tăng trưởng trong nửa cuối năm 2021. Chúng tôi kỳ vọng rằng các nước có khả năng khắc phục COVID-19 và đạt tỷ lệ tiêm chủng cao sẽ vượt qua các nước khác trong khu vực và sẵn sàng cho việc phục hồi”.

Tuy nhiên, các bất ổn làm ảnh hưởng đến việc hồi phục sau đại dịch vẫn còn đó, như hiệu quả của vắc-xin trong ngăn chặn lây lan của các biến thể coronavirus mới, sự e dè của người dân và sự trở lại của lạm phát, đều làm chậm tăng trưởng GDP. Lo ngại về lạm phát tiếp đà tăng từ đầu năm 2021, và sẽ còn tăng trong vài tháng tới trong toàn khu vực.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
2,90
2,90
3,20
3,80
3,80
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,20
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,20
3,50
3,60
5,00
5,20
5,70
6,30
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,30
4,50
5,70
5,80
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.820 23.050 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.847 23.047 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.825 23.045 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.855 23.045 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.850 23.060 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.850 23.030 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.842 23.054 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.827 23.047 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.850 23.030 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.870 23.030 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.550
57.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.550
57.150
Vàng SJC 5c
56.550
57.170
Vàng nhẫn 9999
52.550
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.150
52.850