IMF: Fed có thể sẽ tăng lãi suất vào năm 2022

11:00 | 05/07/2021

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể sẽ cần phải bắt đầu tăng lãi suất vào cuối năm 2022 hoặc đầu năm 2023 bởi chi tiêu chính phủ tăng khiến lạm phát cao hơn mục tiêu trung bình trong dài hạn.

imf fed co the se tang lai suat vao nam 2022 Với Fed, việc làm và lạm phát, đâu là rủi ro tiềm ẩn?
imf fed co the se tang lai suat vao nam 2022 Fed vẫn tin lạm phát sẽ chỉ quanh mức mục tiêu

NHTW Mỹ có khả năng sẽ bắt đầu giảm quy mô mua tài sản trong nửa đầu năm 2022, IMF cho biết trong báo cáo được công bố hôm 1/7 sau khi kết thúc việc tham vấn điều IV - đánh giá của IMF về kinh tế và tài chính của các quốc gia.

“Việc quản lý quá trình chuyển đổi này - từ việc cung cấp sự đảm bảo rằng chính sách tiền tệ sẽ tiếp tục hỗ trợ mạnh mẽ cho nền kinh tế đến việc chuẩn bị thu hẹp quy mô chương trình mua tài sản và rút lại chính sách tiền tệ nới lỏng - đòi hỏi những việc truyền thông khéo léo trong thời gian thắt chặt lại chính sách”, nhân viên IMF cho biết trong báo cáo tham vấn.

imf fed co the se tang lai suat vao nam 2022
Ảnh minh họa

Tại cuộc họp chính sách diễn ra trong hai ngày 15-16/6, Fed quyết định vẫn duy trì lãi suất cho vay qua đêm ở mức gần bằng 0 và báo hiệu có thể sẽ duy trì mức lãi suất này trong năm tới để hỗ trợ nền kinh tế Mỹ phục hồi từ cuộc khủng hoảng Covid-19. Tuy nhiên phần đông các thành viên của Ủy ban Thị trường mở liên bang (FOMC) ủng hộ tăng lãi suất hai lần vào năm 2023, song cũng có tới 7 trong số 18 thành viên muốn tăng lãi suất vào năm 2022, tăng so với con số 4 thành viên hồi tháng 3.

Chủ tịch Fed Jerome Powell cho rằng, việc lạm phát gia tăng mạnh gần đây sẽ được chứng minh chỉ là tạm thời do nhu cầu tăng mạnh sau khi dịch bệnh được khống chế trong khi cung không theo kịp và kỳ vọng lạm phát sẽ giảm dần về mức mà Fed mong muốn.

Chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) - thước đo mà Fed sử dụng cho mục tiêu lạm phát của mình - đã tăng 3,9% trong tháng 5 so với một năm trước đó, cao nhất kể từ năm 2008. IMF cũng dự báo mức tăng này chỉ là tạm thời. Theo đó chỉ số PCE sẽ đạt đỉnh là 4,3% và giảm xuống khoảng 2,5% vào cuối năm 2022. Tuy nhiên con số này vẫn cao hơn mục tiêu trung bình dài hạn của Fed là 2%.

Tại cuộc họp chính sách tháng 6, FOMC đã dự báo lạm phát sẽ duy trì ở trên mức mục tiêu cho đến cuối năm 2023. Cụ thể các nhà hoạch định chính sách của Fed dự báo PCE sẽ tăng 3,4% trong năm năm 2021, cao hơn nhiều mức 2,4% trong dự báo hồi tháng 3. Họ cũng đã tăng dự báo PCE của năm 2022 lên 2,1% và 2,2% cho năm sau.

IMF ước tính, mức chi tiêu cao hơn của Mỹ do Tổng thống Joe Biden đề xuất trong Kế hoạch việc làm Mỹ tập trung vào cơ sở hạ tầng và Kế hoạch gia đình Mỹ dựa trên chi tiêu xã hội - vẫn chưa được thông qua - sẽ làm tăng tổng sản phẩm quốc nội một cách tích lũy giá trị khoảng 5,25% từ năm 2022 đến năm 2024. IMF cũng nâng dự báo về tốc độ tăng trưởng của kinh tế Mỹ trong năm nay lên 7% - tốc độ nhanh nhất kể từ năm 1984 - từ mức dự báo 6,4% vào tháng 4.

Các nhà lập pháp đã thông qua một loạt các gói cứu trợ đại dịch trong 15 tháng qua để thúc đẩy nền kinh tế bao gồm: Kế hoạch giải cứu người Mỹ trị giá 1,9 nghìn tỷ USD được thông qua vào tháng 3 vừa qua, gói 900 tỷ USD được phê duyệt vào tháng 12/2020 và Đạo luật Cares trị giá 2 nghìn tỷ USD vào tháng 3/2020.

“Sự hỗ trợ tài chính và tiền tệ chưa từng có, kết hợp với số ca lây nhiễm mới Covid-19 đang giảm dần, sẽ tạo ra một sự thúc đẩy đáng kể cho hoạt động kinh tế trong những tháng tới”, IMF cho biết. “Tiết kiệm sẽ giảm xuống, nhu cầu sẽ quay trở lại đối với các dịch vụ trực tiếp và hàng tồn kho cạn kiệt sẽ được xây dựng lại”.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.630 22.860 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.655 22.855 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.636 22.856 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.665 22.855 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.660 22.840 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.660 22.840 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.653 22.865 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.642 22.852 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.660 22.840 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.680 22.840 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.600
Vàng SJC 5c
55.900
56.620
Vàng nhẫn 9999
50.200
51.100
Vàng nữ trang 9999
49.800
50.800