IMF: Rủi ro lạm phát gia tăng, tài khóa nên đóng vai trò chủ đạo

10:22 | 25/04/2022

Chính sách tài khóa (CSTK) nên đóng vai trò chủ đạo trong hỗ trợ, đặc biệt trong trường hợp các rủi ro làm suy giảm tăng trưởng trở thành hiện thực, vì dư địa cho việc tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ (CSTT) là rất hạn chế trong bối cảnh các rủi ro lạm phát đang gia tăng, theo Đoàn cán bộ tham vấn Điều khoản IV của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

imf rui ro lam phat gia tang tai khoa nen dong vai tro chu dao Chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội

Rủi ro lạm phát tăng

Trong thời gian từ ngày 4-20/4/2022, Đoàn cán bộ của IMF do bà Era Dabla-Norris làm Trưởng đoàn đã tiến hành các cuộc thảo luận trong khuôn khổ đợt tham vấn Điều khoản IV năm 2022 với Việt Nam. Đoàn đã thảo luận với lãnh đạo NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), Ban Kinh tế Trung ương, Quốc hội và một số cơ quan nhà nước khác. Đoàn cũng đã gặp và làm việc với nhiều đại diện từ khu vực doanh nghiệp, các cơ quan nghiên cứu chính sách và các bên liên quan khác.

imf rui ro lam phat gia tang tai khoa nen dong vai tro chu dao
IMF dự báo Việt Nam sẽ tăng trưởng 6% trong năm 2022

Kết thúc chuyến làm việc, đại diện Đoàn, bà Dabla-Norris đã đưa ra một số phát hiện sơ bộ về diễn biến kinh tế thời gian gần đây, nhìn nhận về triển vọng và các rủi ro trong năm nay và những khuyến nghị lớn. Trong đó về diễn biến kinh tế gần đây, bà Dabla-Norris cho rằng: “Nhờ có chiến dịch triển khai tiêm vắc-xin đầy ấn tượng và các chính sách hỗ trợ tăng trưởng, nền kinh tế đang hồi phục sau làn sóng bùng phát dịch nghiêm trọng trong năm 2021. Tuy nhiên, cho đến nay sự phục hồi diễn ra không đồng đều, khu vực dịch vụ vẫn đang hồi phục một cách chậm chạp trong khi các rủi ro tài chính và bất bình đẳng dường như đã gia tăng”.

Các chuyên gia của Đoàn tham vấn Điều IV nhận định, tiến trình phục hồi kinh tế dự báo sẽ mạnh lên nhờ Chương trình Phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội được thông qua mới đây. Theo đó, IMF dự báo tăng trưởng kinh tế ở mức 6% trong năm 2022 và 7,2% trong năm 2023.

Về lạm phát, theo các chuyên gia của IMF, mặc dù giá cả hàng hoá nguyên liệu thô đang tăng lên, lạm phát cho đến nay vẫn được kiểm soát và được dự báo vẫn nằm dưới mục tiêu 4% (dự báo ở mức 3,9% vào cuối năm 2022), điều này phần nào cho thấy các hoạt động kinh tế còn cầm chừng.

Tuy nhiên Đoàn tham vấn lưu ý triển vọng trong thời gian tới đang đối mặt với nhiều rủi ro đáng kể. “Các rủi ro tăng trưởng thiên về hướng làm giảm triển vọng tăng trưởng, trong khi các rủi ro lạm phát thiên về hướng làm tăng lạm phát. Các rủi ro cận kề ngay trước mắt bao gồm sự gia tăng căng thẳng địa chính trị và suy giảm tăng trưởng ở Trung Quốc. Các rủi ro khác là sự thắt chặt các điều kiện tài chính toàn cầu và những diễn biến trên thị trường bất động sản và thị trường trái phiếu doanh nghiệp”, bà Dabla-Norris cho biết.

Chính vì vậy, việc xây dựng các chính sách nên nhanh chóng, quy mô và cơ cấu gói hỗ trợ chính sách nên được điều chỉnh linh hoạt theo tốc độ phục hồi. “CSTK nên đóng vai trò chủ đạo trong hỗ trợ chính sách, đặc biệt trong trường hợp các rủi ro làm suy giảm tăng trưởng trở thành hiện thực, vì dư địa cho việc tiếp tục nới lỏng tiền tệ là rất hạn chế trong bối cảnh các rủi ro lạm phát đang gia tăng”, chuyên gia này nhấn mạnh.

Cân bằng, linh hoạt và ổn định

Đây là những từ khóa được các chuyên gia IMF đưa ra trong khuyến nghị chính sách cho Việt Nam và tinh thần đó cần áp dụng triệt để dù là trong quá trình phục hồi hay các hành động và chính sách để đạt được các mục tiêu ngắn và dài hạn. Như với Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, việc triển khai nhanh chóng, hiệu quả sẽ có ý nghĩa then chốt trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt trong thời gian tới, CSTK sẽ cần cân bằng giữa một bên là hỗ trợ có mục tiêu mang tính tạm thời với một bên là thúc đẩy quá trình chuyển đổi kinh tế.

“Cần tăng cường huy động nguồn thu để tạo thêm nguồn ngân sách cho việc củng cố an sinh xã hội lâu dài, tăng khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu và đối phó với những áp lực từ già hoá dân số. Đoàn hoan nghênh cam kết của Việt Nam nhằm đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Điều cần thiết là phải chuyển hoá những kế hoạch đầy tham vọng về thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu thành hành động, bao gồm cả việc lồng ghép tốt hơn vào dự toán ngân sách nhà nước”, Trưởng đoàn tham vấn IMF cho biết.

Với CSTT, khuyến nghị đưa ra là nên tiếp tục thận trọng trước các áp lực lạm phát đang gia tăng hiện nay. “Nếu xuất hiện các áp lực lạm phát dai dẳng, NHNN nên thắt chặt vị thế CSTT và truyền thông rõ ràng các yếu tố dẫn đến quyết định này để giúp kiểm soát lạm phát. Trong thời gian tới, chính sách tăng trưởng tín dụng nên cân bằng hợp lý giữa thúc đẩy phục hồi kinh tế và đảm bảo ổn định tài chính”, bà Dabla-Norris đề xuất và cho biết Đoàn hoan nghênh những bước đi gần đây nhằm tăng cường sự linh hoạt của tỷ giá và hiện đại hoá khuôn khổ CSTT của NHNN.

Các chuyên gia cho rằng, việc tăng cường sức chống chịu của khu vực ngân hàng là thiết yếu để hỗ trợ một cách bền vững cho tăng trưởng trong trung hạn. Do đó, nên chấm dứt nới lỏng các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng khi sự phục hồi trở nên mạnh mẽ hơn.

Bên cạnh đó, công tác quản lý, giám sát khu vực tài chính cần được tăng cường để giải quyết những rủi ro đang nổi lên và xây dựng một hệ thống ngân hàng có khả năng chống chịu tốt hơn. Theo đó, khuôn khổ an toàn vĩ mô có thể đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo ổn định tài chính, trong khi các khuôn khổ về thể chế và phá sản nên được củng cố để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý nợ xấu.

Ngoài ra, cần có những cải cách cơ cấu quyết liệt hơn để hiện thực hoá khát vọng tăng trưởng bao trùm, bền vững của Việt Nam. Môi trường kinh doanh nên được cải thiện thông qua việc kiến tạo một sân chơi bình đẳng về tiếp cận đất đai, tài chính và giảm thiểu gánh nặng các quy định quản lý, đặc biệt đối với các DNNVV và các doanh nghiệp còn non trẻ. Cần nỗ lực hơn nữa để nâng cao chất lượng của lực lượng lao động và giảm mất cân đối cung cầu kỹ năng lao động.

Các chính sách cũng cần lưu tâm đến những hàm ý đối với bất bình đẳng thu nhập và tài sản, vì kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự gia tăng bất bình đẳng sẽ làm suy giảm tăng trưởng. Nên tiếp tục duy trì những nỗ lực nhằm tăng cường quản trị, khắc phục các khoảng trống dữ liệu khi Việt Nam đang hướng tới các chuẩn mực của nền kinh tế mới nổi.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.390 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.110 23.390 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.090 23.390 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.080 23.380 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.140 23.350 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.130 23.350 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.100 23.625 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.106 23.392 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.105 23.390 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.160 23.430 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.950
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.950
68.750
Vàng SJC 5c
67.950
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.950
54.900
Vàng nữ trang 9999
53.800
54.500