JICA hoàn thành dự án hỗ trợ Việt Nam thực hiện Thỏa thuận Paris

15:14 | 07/01/2020

Trong các ngày 7/1/2020 tại TP. Hồ Chí Minh và 9/1/2020 tại Hà Nội, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) và Sở Tài nguyên và Môi trường (Sở TN&MT) TP. Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức Hội thảo tổng kết Dự án “Hỗ trợ lên kế hoạch và thực hiện các hành động giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia (NAMA) theo cách có thể đo đạc, báo cáo và thẩm tra được (MRV) (SPI-NAMA”).

Ở cấp Trung ương, Bộ TN&MT và JICA đã bắt đầu khởi động dự án SPI-NAMA vào năm 2015 để tăng cường chức năng quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy chính sách giảm nhẹ phát thải khí nhà kính tại Việt Nam, đặc biệt là chuẩn bị thực hiện đầy đủ Thỏa thuận Paris.

Trong quá trình hợp tác, Dự án đã hỗ trợ Bộ TN&MT xây dựng Nghị định quy định về lộ trình và phương thức giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (KNK), cũng như thực hiện đánh giá công nghệ các-bon thấp cho các phương thức giảm nhẹ của hành động đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), được Chính phủ Việt Nam cam kết theo Thỏa thuận Paris.

jica hoan thanh du an ho tro viet nam thuc hien thoa thuan paris

Ở cấp địa phương, TP. Hồ Chí Minh và JICA đã nỗ lực chuẩn bị để cập nhật Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu (CCAP) của thành phố cho giai đoạn sau năm 2020. Các chuyên gia Nhật Bản đã tổ chức tập huấn cho cán bộ Sở TN&MT TP.Hồ Chí Minh về phương pháp sử dụng mô hình tích hợp Châu Á-Thái Bình Dương (AIM) để cụ thể hóa xu hướng phát thải trong tương lai tại TP. Hồ Chí Minh và xác định các chỉ tiêu giảm thiểu vào năm 2030.

Dựa trên kết quả mô phỏng của mô hình, TP.Hồ Chí Minh có thể thiết lập ưu tiên các hành động giảm thiểu dự kiến trong kế hoạch hành động mới. Kết quả mô phỏng theo mô hình AIM cho thấy lượng phát thải khí nhà kính tại TP.Hồ Chí Minh vào năm 2030 sẽ tăng khoảng 2,6 lần so với năm 2016 nếu không có bất kỳ hành động giảm thiểu nào.

Tuy nhiên, nếu có các hành động giảm thiểu hiệu quả, thành phố có thể giảm khoảng 20% lượng phát thải này vào năm 2030. Kết quả ước tính đã được chia sẻ và tham vấn ý kiến với các bên liên quan tại TP. Hồ Chí Minh và các khuyến nghị chính sách cho Kế hoạch hành động mới đã được xây dựng và gửi tới Sở TN&MT.

Trong khuôn khổ hoạt động thí điểm, các chuyên gia Nhật Bản đã tiến hành đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng của các tòa nhà ở TP. Hồ Chí Minh và đề xuất một hệ thống báo cáo các-bon giống như hệ thống đã được Chính quyền thành phố Tokyo áp dụng.

Hệ thống này đã giúp Tokyo giảm 16% tổng mức tiêu thụ năng lượng trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2012. Hệ thống cung cấp thông tin về hiệu quả tiết kiệm điện năng nhờ áp dụng các biện pháp sử dụng năng lượng hiệu quả tại các tòa nhà. Bên cạnh đó, việc xếp hạng hiệu quả sử dụng năng lượng của Chính quyền Tokyo cũng là động lực thúc đẩy chủ các tòa nhà đầu tư vào các biện pháp tăng cường hiệu quả năng lượng.

“Kinh nghiệm của Chính quyền thành phố Tokyo về báo cáo các-bon rất hữu ích cho TP. Hồ Chí Minh khi số nhà cao tầng trong thành phố đang tăng lên nhanh chóng. Hệ thống này cũng sẽ giúp nâng cao nhận thức của người thuê về tiết kiệm năng lượng và tiết kiệm điện”, ông Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc Sở TN&MT TP. Hồ Chí Minh cho biết.

Trong phạm vi hỗ trợ cho TP. Hồ Chí Minh, Dự án đã ước tính mức giảm phát thải khí nhà kính dự kiến cho một số cảng biển tại TP. Hồ Chí Minh. Phương pháp MRV cho các cảng biển do Dự án phát triển được Bộ Giao thông Vận tải (Bộ GTVT) đánh giá cao.

Ông Trần Ánh Dương, Vụ trưởng Vụ Môi trường của Bộ GTVT xác nhận rằng kết quả của dự án SPI-NAMA cho cảng biển tại TP. Hồ Chí Minh sẽ được đưa vào Kế hoạch Quốc gia phát triển cảng xanh tại Việt Nam đang được Bộ GTVT xây dựng.

“Việt Nam, với tư cách là thành viên của cộng đồng toàn cầu, được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện Thỏa thuận Paris. Những nỗ lực tích cực của Chính phủ Việt Nam và TP. Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ là minh chứng rõ ràng cho thấy cả chính quyền trung ương và địa phương đều chủ động đẩy mạnh các hành động ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm hiện thực hóa mục tiêu xã hội các-bon thấp và tiến tới xã hội không phát thải các-bon, góp phần hiện thực hóa các Mục tiêu Phát triển Bền vững”, ông Hiromichi Murakami, Phó Vụ trưởng Vụ Môi trường toàn cầu của JICA cho biết.

Ông Hiromichi Murakami cũng hy vọng, những kinh nghiệm và bài học từ dự án SPI-NAMA sẽ giúp Chính phủ Việt Nam củng cố khung pháp lý đảm bảo sự chuyển hướng mô hình trong tương lai hướng tới nền kinh tế các-bon thấp.

ĐP

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.090 23.270 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.090 23.270 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.090 23.260 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.090 23.260 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.090 23.260 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.081 23..291 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.075 23.275 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.100 23.260 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.120 23.260 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
50.170
50.550
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
50.170
50.530
Vàng SJC 5c
50.170
50.550
Vàng nhẫn 9999
49.840
50.390
Vàng nữ trang 9999
49.540
50.290