JP Morgan đánh giá cao các ngân hàng Việt Nam

10:55 | 10/12/2019

Các ngân hàng tại Việt Nam là lĩnh vực có cơ hội đầu tư hấp dẫn, bởi vì nó đang hỗ trợ rất nhiều vốn cho nền kinh tế và đây cũng là khu vực ghi nhận tăng trưởng nhanh, theo một lãnh đạo cấp cao tại JP Morgan.

Đó là một sự kết hợp hiếm hoi khi các ngân hàng Việt Nam đang phát triển nhanh và có lợi nhuận khá cao, Harsh Modi, đồng giám đốc châu Á không bao gồm Nhật Bản của JP Morgan, chia sẻ.

“Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu mà họ tạo ra là khá cao. Lợi nhuận cao hơn mức tăng trưởng của bảng cân đối kế toán”, Modi cho biết. Điều đó có nghĩa là các ngân hàng Việt Nam về mặt lý thuyết không quá cần tăng vốn để có thể tài trợ cho tăng trưởng tiền tệ hiện tại, tuy nhiên họ vẫn tăng vốn để duy trì tỷ lệ so với tín dụng cao hơn nhằm đáp ứng các yêu cầu pháp lý, ông giải thích.

Kết quả là, không cần quá nhiều vốn các ngân hàng vẫn có thể đạt được sự tăng trưởng bảng cân đối và điều này duy trì trong một thời gian. Đồng thời, giá cổ phiếu ngân hàng ở mức cao hợp lý cũng là một điểm thu hút đối với nhà đầu tư vào ngành này.

Trong một báo cáo vào tháng 11 mà Modi là đồng tác giả, các nhà phân tích của JP Morgan cho biết họ hy vọng các ngân hàng Việt Nam sẽ mang lại lợi nhuận 15% đến 21% tính theo vốn chủ sở hữu trong hai năm tới. JP Morgan đánh giá cao Vietcombank, Techcombank và ACB.

Kinh tế vĩ mô ổn định đang thúc đẩy sự nhìn nhận lạc quan hơn về các ngân hàng Việt Nam, theo Modi. Cải thiện năng suất trong các lĩnh vực định hướng xuất khẩu đang thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, điều này tiếp tục thúc đẩy cải thiện năng lực xuất khẩu và kiến tạo thặng dư thương mại trong vài năm tới, và đảm bảo thanh khoản trong nước đầy đủ, hợp lý, ông giải thích.

Việt Nam cũng được cho là hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang diễn ra đã dẫn đến sự thay đổi trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

“Vì chúng tôi nhìn thấy những triển vọng trong xuất khẩu, thặng dư tài khoản vãng lai và thanh khoản ngoại tệ, nên chúng tôi cũng cảm nhận rõ ràng hơn trong tầm nhìn dự báo về tăng trưởng và lợi nhuận của hệ thống ngân hàng”, Modi nói.

Phần còn lại của Đông Nam Á và Ấn Độ

Có nhiều cơ hội trên khắp Đông Nam Á, nhưng ranh giới giữa rủi ro và lợi nhuận là khác nhau đối với mỗi thị trường, Modi nói.

JP Morgan nói chung cũng đánh giá tốt các ngân hàng Indonesia, nhất là Bank Mandiri, Bank Rakyat Indonesia, and Bank Central Asia.

Tại Thái Lan và Philippines, ngân hàng đầu tư này đánh giá tốt hơn với Kasikornbank, Bangkok Bank, Metropolitan Bank và East West Bank.

“Thời hạn đầu tư cho các nhà băng còn lại của khu vực có lẽ ngắn hơn”, Modi nói, giải thích sự khác biệt chính giữa các ngân hàng Đông Nám Á với Việt Nam.

Modi cũng cho biết J.P. Morgan nhìn thấy cơ hội đầu tư ở các ngân hàng Ấn Độ do “có hồ sơ theo dõi tài sản bảo đảm tốt và tiền gửi rất tốt, nhất là với HDFC Bank, Mahindra và Mahindra Financial Services.

Khu vực tài chính Ấn Độ đã phải vật lộn với một cuộc khủng hoảng đang diễn ra khi các ngân hàng và các tổ chức cho vay phi ngân hàng đã tích lũy một lượng lớn nợ xấu, điều này đang đè nặng lên lợi nhuận của họ và khả năng tăng trưởng tín dụng. Thêm khó khăn vào tình hình hiện tại là suy giảm kinh tế, với tăng trưởng giảm xuống dưới 5% trong quý III vừa qua, lần đầu tiên kể từ năm 2013.

Sự gia tăng nợ xấu của các ngân hàng Ấn Độ là rủi ro lớn đối với lĩnh vực này, theo Modi. Suy thoái kinh tế, kết hợp với lạm phát gia tăng, có thể làm tăng nợ xấu. Ngoài ra, Modi cho biết các ngân hàng bắt đầu chấp nhận kiểm soát rủi ro tín dụng thấp hơn khi tăng trưởng chậm lại.

Tại các thị trường Đông Nam Á được liên kết chặt chẽ với chuỗi cung ứng toàn cầu, như Singapore, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam, thương mại vẫn là rủi ro lớn nhất. Modi giải thích, mức độ rủi ro phụ thuộc vào việc các quốc gia này có thể sử dụng kết hợp chính sách tài khóa, tiền tệ và công nghiệp ra sao để hỗ trợ hoạt động kinh tế và cải thiện năng suất đủ tốt để bắt đầu thu hút đầu tư.

Đối với Indonesia và Philippines, các chính sách trong nước quan trọng hơn vì tăng trưởng được xác định nhiều hơn bởi những thay đổi trong các yếu tố nội bộ, như thanh khoản chẳng hạn, theo Modi.

M.Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950