Khát vọng cao cần thể chế tốt

09:17 | 21/05/2022

Việt Nam hiện cần một công cuộc Đổi Mới lần thứ hai để phục hồi sau đại dịch Covid-19 và đạt được mục tiêu trở thành một quốc gia có thu nhập cao trong hơn hai thập kỷ nữa, theo Báo cáo cập nhật đánh giá quốc gia (SCD) của Nhóm WB.

khat vong cao can the che tot Hoàn thiện thể chế liên kết vùng kinh tế - xã hội
khat vong cao can the che tot Kịp thời tháo gỡ vướng mắc về thể chế, chính sách, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp

Đổi mới (1986) và những cải cách thể chế trong những thập kỷ qua đã giúp Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế “đóng” thành một trong những nền kinh tế mở cửa nhất, đồng thời chuyển đổi thành công từ quốc gia thu nhập thấp lên mức thu nhập trung bình (TNTB). Nhưng lộ trình để tiến đến nước TNTB cao và thu nhập cao sẽ khó trở thành hiện thực với nền tảng thể chế và tốc độ cải cách chậm, không đồng đều như hiện tại. Nói cách khác, Việt Nam hiện cần một công cuộc Đổi Mới lần thứ hai để phục hồi sau đại dịch Covid-19 và đạt được mục tiêu trở thành một quốc gia có thu nhập cao trong hơn hai thập kỷ nữa, theo Báo cáo cập nhật đánh giá quốc gia (SCD) của Nhóm WB.

Cần tiếp tục cải cách nhanh, quyết liệt

Nhìn lại nền kinh tế Việt Nam, bà Carolyn Turk - Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam cho biết, GDP theo đầu người của Việt Nam đã tăng gấp 5 lần sau ba thập kỷ qua, song thể chế chưa thích ứng với tốc độ thay đổi đó. “Thực tế từ hơn nửa thế kỷ trước đến nay, chỉ có 12-15 quốc gia chuyển đổi thành công từ mức TNTB thấp lên thu nhập cao. Nó cho thấy thách thức để hiện thực hóa khát vọng 2045 của Việt Nam là rất lớn, trong đó thể chế là thách thức lớn nhất”, bà Carolyn Turk nói.

Trực diện hơn, ông Jacques Morisset - chuyên gia kinh tế trưởng WB tại Việt Nam cho rằng, trong khi khát vọng phát triển đất nước ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn thì Việt Nam dường như ngày càng rụt rè trong việc cải cách thể chế và thực thi chính sách. Theo ông, hiện hầu hết các khung thể chế được thiết kế từ cuối những năm 80, đầu 90 của thế kỷ trước. Mặc dù thiết kế này “vẫn chạy ổn”, nhờ đó đã giúp Việt Nam thành công trong thời gian qua. “Nhưng liệu nó có tiếp tục thúc đẩy Việt Nam phát triển trong 25 năm tới nữa không là câu hỏi cần đặt ra”, chuyên gia này đặt vấn đề.

khat vong cao can the che tot
Nền tảng cải cách thể chế tạo ra các yếu tố quyết định việc thực hiện hiệu quả

Theo Báo cáo SCD với tiêu đề: “Để Việt Nam tươi sắc đào xuân? Cải cách thể chế hướng tới thực thi hiệu quả” công bố mới đây, có hai thách thức chính đang đe dọa khát vọng phát triển của Việt Nam. Thứ nhất, đại dịch Covid-19, cùng với quá trình toàn cầu hóa chậm lại và nhận thức rõ hơn về mức độ dễ bị tổn thương của đất nước trước các cú sốc bên ngoài, đã đặt ra những thách thức đáng kể đối với mô hình tăng trưởng hiện tại của Việt Nam. Thứ hai, quá trình triển khai thực hiện không đồng đều các cải cách trong suốt những năm qua đã khiến các thể chế của Việt Nam chưa sẵn sàng để giải quyết những thách thức phát triển có tính chất xuyên suốt, phức tạp hơn cũng như để hỗ trợ việc chuyển đổi sang một quốc gia có thu nhập cao.

“Hai thách thức này - một có nguồn gốc đương đại, một bắt nguồn từ lịch sử - được dự báo sẽ định hướng lại các ưu tiên phát triển của đất nước và thay đổi các hành động mà Việt Nam cần ưu tiên thực hiện để đạt được khát vọng phát triển trở thành một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045”, Báo cáo này nhấn mạnh.

6 ưu tiên và 5 cải cách cần thực hiện

Báo cáo SCD cập nhật xác định 6 ưu tiên phát triển cần chú trọng để đạt được khát vọng đề ra, bao gồm: Thích ứng với quá trình toàn cầu hóa chậm hơn bằng cách tập trung vào nâng cao giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu và đẩy mạnh thương mại dịch vụ; Đẩy nhanh số hoá nền kinh tế; Chuyển từ “tăng trưởng bằng mọi giá” sang “xây dựng nền kinh tế xanh và bền vững”; Đẩy mạnh cơ sở hạ tầng bằng cách cải thiện chất lượng chi tiêu công và tăng cường các giải pháp của khu vực tư nhân; Cân bằng sự ổn định của ngành Ngân hàng với việc mở rộng tài chính toàn diện và phát triển thị trường vốn về chiều sâu; Chuyển từ nỗ lực giảm nghèo từng phần sang một chương trình bảo trợ xã hội trên toàn quốc.

Theo SCD cập nhật, các ưu tiên này được thực hiện hiệu quả sẽ góp phần đạt được mục tiêu dài hạn là cải thiện sử dụng vốn sản xuất, vốn vật chất, vốn con người và vốn tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam.

Thực tế, các ưu tiên phát triển này đã được Việt Nam thực hiện trong những năm qua nhưng không đồng đều. Đo lường kết quả thực thi cải cách trong thập kỷ qua (chênh lệch giữa các mục tiêu và thực tế triển khai) cho thấy điều này. Bà Trần Thị Lan Hương - Chuyên gia Quản trị công cao cấp của WB lấy ví dụ, Việt Nam đã triển khai khá hiệu quả các ưu tiên về mở cửa thương mại, chuyển đổi số, xóa đói giảm nghèo, nhưng lại chưa đạt được nhiều tiến triển trong các ưu tiên khác như tăng trưởng xanh, phát triển hạ tầng, hòa nhập xã hội… so với ngưỡng cho các nước có TNTB thấp. Chính việc không đồng đều và cải cách một cách “dần dần”, từng bước nên kết quả mang lại không toàn diện, không có tính hệ thống.

“Con đường để đạt quốc gia TNTB đã rất thách thức, nhưng càng thách thức hơn để trở thành quốc gia thu nhập cao. Vì vậy, Việt Nam sẽ phải giải quyết những vấn đề rất cốt lõi, căn bản trong cải cách thể chế để có thể đạt được mục tiêu đề ra”, bà Trần Thị Lan Hương cảnh báo.

Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế trưởng WB tại Việt Nam cho rằng để đạt được mức TNTB cao vào năm 2035 và mức thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần chuyển từ việc thực thi các cải cách một cách tương đối tốt nhưng không đồng đều sang việc tổ chức thực thi mạnh mẽ nhất quán, đồng thời xác định rằng một số ưu tiên phát triển đã trở nên phức tạp hơn và đòi hỏi sự đánh đổi chính sách khó khăn hơn.

Nhằm giúp định hướng cụ thể các bước cần thiết để hiện đại hóa thể chế và thiết lập các điều kiện cần thiết để nâng cao kết quả triển khai thực hiện, các chuyên gia WB khuyến nghị 5 cải cách thể chế cần thực hiện: Hình thành nền tảng thể chế vững chắc để biến các ưu tiên phát triển trên thành các hành động cụ thể; Hài hòa, tinh giản các quy trình thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả phục vụ của chính quyền các cấp, các ngành; Sử dụng các công cụ thị trường để tạo động lực trong khu vực nhà nước và khu vực tư nhân; Tăng cường hiệu lực thực thi nhằm nâng cao động lực, lòng tin và sự công bằng; Áp dụng các quy trình có sự tham gia và giám sát nhằm nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Các chuyên gia lưu ý, trong khi mỗi cải cách thể chế nêu trên đều góp phần cải thiện các nhân tố tác động đến triển khai thực hiện, nhưng chỉ khi áp dụng đồng thời cả 5 cải cách mới thực sự tạo ra sự khác biệt về kết quả thực thi. Thực hiện các cải cách thể chế này sẽ đòi hỏi phải thay đổi tư duy, quyết tâm và cam kết nhưng kỳ vọng sẽ làm được.

“Việt Nam đang ở ngã ba đường - những bước đi hôm nay sẽ quyết định liệu trong hai thập kỷ tới Việt Nam có thể trở nên thành công như Hàn Quốc hay không”, Báo cáo SCD cập nhật nêu và kết luận: “Việt Nam hiện cần một công cuộc Đổi Mới thứ hai để phục hồi sau đại dịch Covid-19 và đạt được mục tiêu trở thành một quốc gia có thu nhập cao”.

Đỗ Lê

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850