Khi FDI tăng tốc

08:56 | 29/06/2017

Đã coi DN FDI là DN Việt Nam, thì họ cũng phải được đối xử bình đẳng như các loại hình DN khác, từ thuế đóng góp vào ngân sách cho đến khả năng tiếp cận các hạ tầng kỹ thuật...

Thu hút được 19,22 tỷ USD vốn FDI trong nửa đầu năm
Lựa chọn nào cho tăng trưởng?
ICEAW: GDP Việt Nam sẽ tăng trưởng 6,5% nhờ FDI và xuất khẩu

Đầu tuần này, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) công bố con số vốn FDI thu hút mới khá “sốc”, tính từ đầu năm đến ngày 20/6/2017 đã có trên 19 tỷ USD vốn FDI đăng ký và tăng gần 55% so với cùng kỳ năm ngoái. Cũng theo cơ quan này, lũy kế trong khoảng 30 năm thu hút FDI thì tổng vốn đăng ký đã vượt 300 tỷ USD, tức tương đương khoảng 1,5 lần GDP Việt Nam.

Ảnh minh họa

Bắt đầu ghi nhận số liệu từ năm 1988, phải đến năm 1991 vốn cam kết đầu tư từ các dự án FDI mới vượt 1 tỷ USD/năm, đến năm 2006 vượt 10 tỷ USD, đỉnh điểm là năm 2008 lên đến gần 72 tỷ USD... Nhưng, lịch sử số liệu vốn đăng ký cho thấy sự trồi sụt liên tục, đi theo xu hướng đầu tư cũng thay đổi.

Từ giai đoạn đầu với những dự án mang tính bước ngoặt về công nghệ và cam kết chuyển giao chuỗi giá trị, như Honda, Sony, Toyota… và kéo theo hàng loạt DN phụ trợ nước ngoài đầu tư tập trung vào Vĩnh Phúc, sang giai đoạn sau là hàng loạt các dự án dệt may, da giày, rồi tiếp tới là gia công lắp ráp ngành điện tử... Cho tới vài năm gần đây, lĩnh vực thu hút nhiều dự án FDI vẫn là công nghiệp chế biến chế tạo. Xu hướng đó cho thấy rõ cách nhìn của nhà đầu tư nước ngoài đối với lợi thế của Việt Nam - vẫn là nhân công rẻ và trình độ thấp.

Những cam kết con số vốn đăng ký khủng đó thực sự là ảo, bởi giải ngân mới chỉ chiếm khoảng một nửa. Mô hình dự án được thiết kế gồm đầu tư dây chuyền sản xuất, phát triển hoạt động đào tạo, nghiên cứu phát triển, chuyển giao công nghệ… thì khi thực hiện đều bị “cắt gọt” ở những giai đoạn đầu tư sau, vốn được Việt Nam kỳ vọng sẽ nâng cao giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm.

Những cam kết chuyển giao công nghệ ít được thực thi, thể hiện qua việc tỷ lệ nội địa hóa còn thấp và khiến cho một số ngành công nghiệp vỡ quy hoạch, như ô tô là ví dụ. Thực tế ấy cho thấy, đi theo các con số về đầu tư nước ngoài là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế không được cải thiện nhiều. Trong khi đó, rất nhiều ưu đãi về thuế, tiếp cận đất đai, hỗ trợ hạ tầng… được trao cho khối DN này.

Nguy cơ những ưu đãi đang khiến các thực thể kinh tế của đất nước bị phân chia: FDI - DN trong nước. Bằng chứng cho thấy các DN trong nước không thể lớn, nhưng FDI liên tục tăng về năng lực sản xuất, đặc biệt là xuất khẩu. Trong khi đó, đóng góp của khối này về giải quyết việc làm và nộp ngân sách lại tương đối thấp.

Mỗi năm đóng góp 22-25% vốn đầu tư toàn xã hội, chiếm 65-70% tổng kim ngạch xuất khẩu… tuy nhiên khu vực DN có vốn đầu tư nước ngoài lại chỉ giải quyết gần 4 triệu việc làm và nộp ngân sách từ 14-15% tổng thu mỗi năm. Câu hỏi đặt ra là các dự án FDI có đang “bòn rút” lợi ích từ Việt Nam và tạo ra bất bình đẳng trong kinh doanh, làm méo mó môi trường kinh doanh?

Cho dù vai trò của khối DN FDI trong nền kinh tế ngày càng lớn, nhưng có lẽ đã đến lúc không nên để tồn tại một nền kinh tế đang tạo quá nhiều điều kiện cho DN FDI phát triển. Trong khi đó, các DN trong nước là nền tảng của nền kinh tế, có khả năng tạo ra năng lực cạnh tranh trong hội nhập lại chịu nhiều rào cản, khó khăn và hiện rất “khó lớn”.

Cùng với xu hướng gia tăng đầu tư FDI lúc này, cần siết lại chất lượng dự án, đảm bảo các nhà đầu tư nước ngoài phải thực hiện đúng cam kết về quy mô phát triển và chuyển giao công nghệ. Và đã coi DN FDI là DN Việt Nam, thì họ cũng phải được đối xử bình đẳng như các loại hình DN khác, từ thuế đóng góp vào ngân sách cho đến khả năng tiếp cận các hạ tầng kỹ thuật...

Anh Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.460 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.520 23.700 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.400 23.650 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.670 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.490 23.660 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.495 23.680 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.480 23.640 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.520 23.650 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
46.700
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
46.700
47.900
Vàng SJC 5c
46.700
47.920
Vàng nhẫn 9999
44.200
45.400
Vàng nữ trang 9999
43.900
45.200