Khó khăn không ngăn đà phát triển

10:37 | 28/01/2022

Năm 2021 chứng kiến sự hoành hành của đại dịch Covid-19, làm chao đảo đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam. Nhiều ngành, nghề, lĩnh vực đã khó khăn. Nhưng “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, chính trong những giai đoạn khó khăn nhất thì ngành Ngân hàng lại cho thấy sức chống chịu bền bỉ, mạnh mẽ, làm nền tảng phát triển ngày càng bền vững hơn.

kho khan khong ngan da phat trien Củng cố nguồn lực xử lý nợ xấu
kho khan khong ngan da phat trien Tập trung vốn hỗ trợ sản xuất kinh doanh
kho khan khong ngan da phat trien Kinh doanh ngân hàng sẽ khởi sắc

Gia tăng sức khỏe tài chính

Năm 2021 chứng kiến cuộc đua tăng vốn bằng nhiều hình thức của các ngân hàng để đáp ứng các tiêu chí an toàn vốn theo thông lệ quốc tế. Nhiều ngân hàng tăng vốn mạnh ngay từ đầu năm 2021 như VPBank tăng tới 80%, VIB là 44,2%, SCB 32,8%, Sacombank 32%, OCB 31,8%... Khối NHTM nhà nước cũng không ngoại lệ, Vietcombank tăng vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu để trả cổ tức từ nguồn lợi nhuận còn lại sau thuế. Sau phát hành, vốn điều lệ của Vietcombank tăng thêm 10.236 tỷ đồng, lên mức hơn 47.325 tỷ đồng. Trong tháng cuối cùng của năm, BIDV được NHNN chấp thuận tăng vốn thêm hơn 10.300 tỷ đồng thông qua chi trả cổ tức…

Thống kê sơ bộ, trong năm 2021, vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng đã tăng thêm hơn 110.000 tỷ đồng. Tính tới đầu năm 2022, top 10 vốn điều lệ thuộc về BIDV, VietinBank, Vietcombank, VPBank, MB, Techcombank, Agribank, ACB, SHB, SCB. BIDV giữ vững phong độ ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất hệ thống với 50.585 tỷ đồng. Đáng chú ý, việc tăng vốn mạnh năm 2021 đã giúp VPBank vươn lên đứng đầu vốn điều lệ trong khối các NHTMCP tư nhân, xếp thứ tư trong toàn hệ thống. Tổng tài sản của hệ thống ngân hàng cũng có sự tăng trưởng tốt khi đã vượt trên 15 triệu tỷ đồng - tăng trên 7,53% so với thời điểm cuối năm 2020.

kho khan khong ngan da phat trien
Vốn điều lệ của hệ thống ngân hàng tiếp tục tăng trong năm 2021

Gia tăng được bộ đệm vốn tạo cơ sở để nhiều ngân hàng đáp ứng các quy định theo chuẩn Basel II, khi chậm nhất tới ngày 01/01/2023, các ngân hàng phải thực hiện tỷ lệ an toàn vốn (CAR) chuẩn Basel II quy định tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN. Tính đến nay đã có 16/35 ngân hàng đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư 41. Đặc biệt, năm 2021, TPBank là ngân hàng đầu tiên tại thị trường Việt Nam công bố hoàn thành Basel III và IFRS 9 (chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế).

Theo Tổng Giám đốc TPBank Nguyễn Hưng, ngân hàng đã tiến hành triển khai Basel III từ năm 2015 qua việc áp dụng nội bộ một số yêu cầu chuẩn mực này về quản lý rủi ro thanh khoản, tới cuối năm 2020 tiếp tục triển khai các cấu phần còn lại và đã hoàn thành trong quý cuối cùng của năm 2021. Đại diện TPBank cũng cho rằng, Basel không mang lại lợi ích kinh tế trong ngắn hạn, mà ý nghĩa quan trọng của hiệp ước vốn này là đảm bảo khi ngân hàng triển khai áp dụng đều có thể nâng cao quản trị, duy trì hoạt động an toàn trong mọi điều kiện kinh tế.

Nối bước TPBank, ABBank hiện đã đạt 70% lộ trình hướng tới Basel III. HDBank cũng triển khai nâng cấp áp dụng tiêu chuẩn Basel II lên Basel III. Hiện ngân hàng này đã áp dụng chỉ số LCR - Tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản và NSFR - Hệ số quỹ bình ổn ròng của Basel III.

kho khan khong ngan da phat trien
Các ngân hàng đẩy mạnh số hóa để nâng cao hiệu quả hoạt động

Có thể thấy, xu hướng các ngân hàng đang ngày một hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro nhằm đáp ứng các yêu cầu quản trị trong tình hình mới, đặc biệt đáp ứng quy định ngày càng nghiêm ngặt của NHNN, tiến sát hơn chuẩn mực thế giới là tất yếu và cần thiết. Bởi, một cơ thể khoẻ mạnh mới có thể giúp các ngân hàng chống chọi với những bất ổn.

Giải pháp nữa để giảm thiểu rủi ro hoạt động khi thị trường biến động được các ngân hàng hướng tới đó là chuyển dịch trong cơ cấu thu nhập. Tín dụng bán lẻ đang trở thành động lực tăng trưởng chính của hệ thống ngân hàng giai đoạn 5 năm vừa qua. Tỷ trọng tín dụng bán lẻ đã tăng từ mức 31% năm 2015 lên trên 42% tổng dư nợ thời điểm cuối năm 2021. Cùng với đó, việc đẩy mạnh thu nhập ngoài lãi như kinh doanh bảo hiểm, phát triển hoạt động thanh toán, mua bán chứng khoán, ngoại hối… cũng là xu hướng hiện hữu của nhiều ngân hàng hiện nay. Chuyên gia cho rằng, chính những thay đổi này đã mang lại nguồn thu nhập ổn định và bền vững hơn giúp cho ngân hàng vững vàng vượt qua giai đoạn khó khăn và hơn thế còn hỗ trợ tích cực nền kinh tế.

"Một cơ thể khỏe mạnh mới có thể giúp ngân hàng chống chọi với những bất ổn".

Cải thiện uy tín

Những thành tích, nỗ lực của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã nhận được nhiều đánh giá tích cực từ phía các tổ chức quốc tế qua việc nâng xếp hạng tín nhiệm, cũng như qua các giải thưởng quốc tế… Gần đây nhất, tháng 12/2021, Fitch Ratings nâng đánh giá Sức mạnh độc lập của VietinBank, Vietcombank và nâng xếp hạng tín nhiệm Nhà phát hành nợ dài hạn cho ACB. Moody’s đánh giá ABBank có tính thanh khoản tốt và triển vọng “ổn định”. Trước đó, VPBank được Moody’s nâng mức đánh giá tín dụng cơ sở (BCA) từ B1 lên Ba3 - ngang với xếp hạng quốc gia Moody’s dành cho Việt Nam, với triển vọng tích cực. Moody’s trong tháng 3/2021 cũng đã xếp hạng tiền gửi nội tệ và ngoại tệ dài hạn, cũng như xếp hạng các khoản vay cao cấp không được bảo đảm của 15 ngân hàng Việt Nam ở mức Ba3 với triển vọng tích cực…

“Danh sách 50 công ty niêm yết tốt nhất năm 2021” của Forbes công bố cũng ghi danh nhiều NHTM lớn như Vietcombank, VietinBank, BIDV, Techcombank, VPBank, MB, HDBank…

Minh chứng nữa cho thấy tín nhiệm của ngân hàng Việt Nam ngày một cải thiện hơn nằm ở việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Năm 2021, thương vụ VPBank bán tới 49% cổ phần FE Credit cho Công ty tài chính tiêu dùng SMBCCF (thuộc Tập đoàn Tài chính Sumitomo Mitsui - SMBC) với mức định giá 2,8 tỷ USD đã là một trong những sự kiện nhận được nhiều quan tâm nhất của thị trường. SHB cũng đã thành công trong việc bán cổ phần tại công ty tài chính do ngân hàng này sở hữu cho Ngân hàng TNHH Đại chúng Ayudhya (Krungsri) của Thái Lan - thành viên chiến lược thuộc Tập đoàn MUFG - Nhật Bản...

Với những kết quả đã đạt được, đánh giá về triển vọng ngân hàng Việt Nam, TS. Cấn Văn Lực - thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia... cho rằng, hệ thống ngân hàng năm 2022 sẽ có những thuận lợi và khó khăn nhất định. Khi nền kinh tế phục hồi trở lại, nhu cầu về tín dụng cũng sẽ gia tăng theo, cùng với tiến trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ sẽ giúp các ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ trên các kênh số. Quy định giãn, hoãn nợ, giữ nguyên nhóm nợ của NHNN cũng đã phần nào hỗ trợ cho các ngân hàng có điều kiện củng cố dự phòng rủi ro, hiện tỷ lệ bao phủ nợ xấu đã tăng lên 130%. Điều đó giúp ngân hàng có đủ khả năng và nguồn lực để kiểm soát được rủi ro trong vòng một, hai năm tới.

kho khan khong ngan da phat trien
Hiện nhiều ngân hàng đã về đích Basel II và đang triển khai Basel III

Dự báo giai đoạn 2020-2025, mức độ cạnh tranh trong Ngành sẽ tăng lên bởi nhiều ngân hàng đang có sự thay đổi về chiến lược cạnh tranh và phát triển, tăng nguồn lực đầu tư. Nhất là chuyển đổi số, ngân hàng số, hệ sinh thái là những mục tiêu đang được nhiều ngân hàng theo đuổi kỳ vọng mang lại kết quả kinh doanh khởi sắc hơn trong năm 2022. Trong cuộc đua này, ngân hàng nào nắm được lượng lớn dữ liệu tạo lợi thế nhất định trong cuộc đua về số hoá cũng như các hoạt động khác…

Có thể nói, năm 2022, sự phục hồi phát triển của ngành Ngân hàng nói riêng, nền kinh tế nói chung còn phụ thuộc diễn biến của dịch bệnh. Song, với kinh nghiệm dày dặn, nền tảng tài chính cải thiện, hướng phát triển kinh doanh bền vững, ngành Ngân hàng vẫn sẽ vững vàng vượt qua thách thức, tiếp tục phát triển lên tầm cao mới.

Khuê Nguyễn

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
2,90
3,00
3,10
4,20
4,60
5,30
6,00
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,40
3,60
4,60
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,55
2,55
2,85
4,00
3,90
4,70
4,60
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,40
5,50
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.920 23.230 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.955 23.235 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.935 23.235 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.935 23.230 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.980 23.190 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.970 23.190 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.952 23.352 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.952 23.238 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.970 23.250 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.000 23.190 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.500
69.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.500
69.500
Vàng SJC 5c
68.500
69.520
Vàng nhẫn 9999
54.200
55.100
Vàng nữ trang 9999
53.900
54.700