Không say sưa với những gì đạt được, bởi phía trước còn nhiều thách thức

23:18 | 01/10/2022

Thông tin về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9 vừa diễn ra ngày 1/10, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, Người phát ngôn của Chính phủ, tại họp báo thường kỳ cho biết, phiên họp nhằm đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tháng 9, quý III và 9 tháng đầu năm 2022; chỉ đạo phương hướng, nhiệm vụ thời gian tới.

khong say sua voi nhung gi dat duoc boi phia truoc con nhieu thach thuc Cần chủ động, quyết liệt và linh hoạt để giữ được đà phục hồi tích cực
khong say sua voi nhung gi dat duoc boi phia truoc con nhieu thach thuc [Infographic] Tổng quan kinh tế Việt Nam 9 tháng năm 2022
khong say sua voi nhung gi dat duoc boi phia truoc con nhieu thach thuc

Vĩ mô ổn định, tăng trưởng GDP quý III ấn tượng

Các thành viên Chính phủ đều thống nhất đánh giá, trong điều kiện dịch bệnh được kiểm soát tốt, tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, quý III và 9 tháng đầu năm tiếp tục chuyển biến tích cực, phục hồi mạnh và ấn tượng. Đặc biệt là GDP quý III tăng cao, đạt 13,67%, góp phần đưa tăng trưởng 9 tháng đầu năm đạt 8,83% (cao nhất từ năm 2011 đến nay). Có tới 10 địa phương có GRDP 9 tháng đầu năm 2022 tăng trên 11%. TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội cũng đều đạt mức tăng trưởng cao, lần lượt là 9,97% và 9,69%.

Kinh tế tăng trưởng trên cả 3 khu vực. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,99%; công nghiệp và xây dựng tăng 9,63%; khu vực dịch vụ phục hồi mạnh mẽ với mức tăng 10,57%.

Kinh tế vĩ mô duy trì ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt trong bối cảnh chịu nhiều sức ép. CPI bình quân 9 tháng tăng 2,73%, tương đương cùng kỳ các năm từ 2018-2021. Các cân đối lớn được bảo đảm, trong đó thu ngân sách nhà nước 9 tháng ước đạt 94% dự toán, tăng 22%; kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 559 tỷ USD, tăng 15,1%, xuất siêu 6,52 tỷ USD; an ninh lương thực, năng lượng được bảo đảm; cung ứng lao động cơ bản đáp ứng nhu cầu.

Tình hình đăng ký doanh nghiệp khởi sắc, số doanh nghiệp thành lập mới và trở lại hoạt động trong 9 tháng đạt trên 163 nghìn, tăng 38,6% so cùng kỳ, gấp 1,44 lần số doanh nghiệp rút lui.

Vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng đạt trên 2,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,5% so cùng kỳ. Vốn FDI thực hiện 9 tháng đạt trên 15,4 tỷ USD (cao nhất trong 5 năm qua), tăng 16,2% so với cùng kỳ cho thấy xu hướng mở rộng đầu tư sản xuất, kinh doanh khá tích cực, phản ánh niềm tin của doanh nghiệp vào việc giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta.

An sinh xã hội được bảo đảm. Từ tháng 7/2021 đến nay, đã hỗ trợ trên 85,3 nghìn tỷ đồng cho trên 55,2 triệu lượt người lao động và gần 856 nghìn người sử dụng lao động theo các nghị quyết của Chính phủ. Tình hình lao động chuyển biến tích cực, thị trường lao động phục hồi, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm giảm mạnh. Nhiều vấn đề tồn đọng hoặc các vấn đề nóng, đột xuất phát sinh được tập trung chỉ đạo, xử lý, giải quyết phù hợp, hiệu quả.

Các tổ chức quốc tế đều đánh giá tích cực về tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam, đưa ra các dự báo lạc quan về tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm nay và nhận định tăng trưởng của Việt Nam thuộc nhóm cao nhất Đông Nam Á (Moody, WB, IMF, ADB dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2022 lần lượt là 8,5%, 7,2%, 7%, 6,5%). Mới đây, Moody’s đã nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn của Việt Nam từ mức Ba3 lên mức Ba2, triển vọng Ổn định; Nikkei Asia xếp Việt Nam ở vị trí thứ 2 về chỉ số phục hồi sau dịch COVID-19.

Còn rất nhiều khó khăn, thách thức phải đối mặt, hóa giải

Bên cạnh những kết quả đạt được, các thành viên Chính phủ cho rằng, nước ta còn không ít khó khăn, thách thức phải đối mặt. Trong đó nổi lên là: Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn còn tiềm ẩn những rủi ro; Việc triển khai Chương trình phục hồi, các chương trình mục tiêu quốc gia, giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn do giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào, chi phí sản xuất cao; tình trạng thiếu thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế ở một số bệnh viện, địa phương chưa được xử lý dứt điểm; đời sống một bộ phận người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn;...

Tại phiên họp, Thủ tướng nêu rõ: "Những kết quả đạt được là rất tích cực và đáng mừng, song chúng ta không được lơ là, chủ quan; không say sưa với những gì đạt được vì trước mắt chúng ta còn rất nhiều khó khăn, thách thức phải đối mặt, phải xử lý".

Nhiều nhiệm vụ trọng tâm phải triển khai thời gian tới

Thủ tướng đã chỉ đạo nhiều nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới, trong đó yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ, hiệu quả Chương trình phòng, chống dịch COVID-19. Đẩy mạnh việc tiêm vaccine; khắc phục nhanh, bằng được tình trạng thiếu thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế. Tập trung rà soát, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về y tế, xử lý tốt các vấn đề tồn tại, phát sinh.

Kiên trì và nhất quán thực hiện mục tiêu ưu tiên, xuyên suốt là bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng. Theo dõi sát tình hình, diễn biến thế giới, khu vực, chủ động phân tích, dự báo, đề xuất giải pháp kịp thời, phù hợp ứng phó những diễn biến mới phát sinh.

Thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, chắc chắn, chủ động, linh hoạt; phối hợp chặt chẽ, hài hòa với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và phối hợp hiệu quả với các chính sách khác. Bảo đảm an ninh, an toàn về tiền tệ, tín dụng, tài chính, nợ công, năng lượng, lương thực, thông tin; tăng cường quản lý, kiểm soát giá cả hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, nhất là dịp cuối năm, lễ, Tết...

Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu về tiếp tục đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; tập trung rà soát tiến độ thực hiện của các dự án để điều chỉnh kế hoạch vốn phù hợp, bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, manh mún.

Về Chương trình phục hồi, cần đẩy mạnh hơn nữa trong triển khai hiệu quả các chính sách thuộc Chương trình. Khẩn trương xây dựng, ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia; đẩy nhanh phân bổ, giao kế hoạch vốn; nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương.

Thủ tướng cũng chỉ đạo thúc đẩy sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, nhất là các mặt hàng xuất khẩu, các mặt hàng đáp ứng nhu cầu cuối năm. Đồng thời, theo dõi sát diễn biến thị trường, kịp thời thực hiện giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu trong nước, ổn định giá cả, không để thiếu hàng, găm hàng, đầu cơ, tăng giá bất hợp lý; tăng cường chống buôn lậu, gian lận thương mại. Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu. Đẩy mạnh phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh. Nâng cao chất lượng xây dựng thể chế, hoàn thiện các dự án luật, bảo đảm tiến độ, phù hợp tình hình thực tiễn. Đẩy nhanh tiến độ lập, phê duyệt quy hoạch, bảo đảm chất lượng. Tiếp tục tập trung xử lý các vấn đề tồn đọng kéo dài, các ngân hàng yếu kém; 7/12 doanh nghiệp, dự án chậm tiến độ, kém hiệu quả.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, công tác dạy nghề, nâng cao chất lượng giáo dục các cấp; thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo, phát triển thị trường khoa học - công nghệ. Đầu tư, phát triển văn hóa ngang tầm với kinh tế, xã hội.

Lê Đỗ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.624 24.854 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.654 24.854 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.635 24.855 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.640 24.854 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.620 24.855 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.600 24.854 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.698 24.854 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.692 24.852 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.580 24.854 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.660 24.854 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.600
67.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.600
67.600
Vàng SJC 5c
66.600
67.620
Vàng nhẫn 9999
53.150
54.150
Vàng nữ trang 9999
52.950
53.750