Kinh tế Australia tổn thương vì thương chiến

10:11 | 31/12/2020

Theo Công ty nghiên cứu Capital Economics, nền kinh tế Australia đang bị ảnh hưởng nặng nề do căng thẳng thương mại với Trung Quốc leo thang và tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể “không bao giờ trở lại” mức trước đại dịch Covid-19 ngay cả khi đại dịch này kết thúc.

Căng thẳng thương mại leo thang

Theo Capital Economics, Trung Quốc đang là đối tác thương mại lớn nhất của Australia, chiếm 39,4% xuất khẩu hàng hóa và 17,6% xuất khẩu dịch vụ của nước này trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2020. Tuy nhiên, từ mấy tháng gần đây, Trung Quốc đã nhắm vào danh sách các sản phẩm nhập khẩu ngày càng tăng từ Australia khi đã áp thuế đối với rượu vang và lúa mạch, đồng thời đình chỉ nhập khẩu thịt bò.

Về phía mình, Australia đã yêu cầu Tổ chức Thương mại thế giới điều tra về mức thuế quá cao mà Trung Quốc áp lên lúa mạch của nước này. Theo Bộ trưởng Thương mại Australia Simon Birmingham khoản thuế bổ sung 80% Trung Quốc áp đặt đối với lúa mạch nhập khẩu từ Australia là “thiếu cơ sở” và “không được củng cố bởi các sự kiện và bằng chứng”. "Chúng tôi rất tự tin rằng dựa trên bằng chứng, dữ liệu và phân tích mà chúng tôi đã tổng hợp, Australia có một vụ kiện cực kỳ mạnh mẽ", ông Birmingham nói.

kinh te australia ton thuong vi thuong chien

Tuy nhiên căng thẳng vẫn tiếp tục leo thang. Mới đây nhất, theo Reuters, ngày 25/12 Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã ra thông báo ngừng nhập khẩu gỗ từ hai bang New South Wales và Tây Australia với hiệu lực từ ngày 23/12. Quyết định được ban hành sau khi giới chức địa phương phát hiện mối mọt trong số gỗ. Tổng cục Hải quan Trung Quốc yêu cầu giới chức hải quan địa phương phải tăng cường kiểm tra giám sát gỗ nhập từ Australia và hoàn trả những lô hàng có mối mọt. Cũng trong thông báo, Trung Quốc cấm nhập khẩu gỗ từ bang Tasmania và Nam Australia từ ngày 3/12. Trước đó, Trung Quốc đã ra lệnh tạm ngừng nhập khẩu gỗ từ các bang Victoria, Queensland của Australia.

Mối quan hệ giữa Australia và Trung Quốc đã xấu đi trong năm nay sau khi Australia ủng hộ lời kêu gọi về cuộc điều tra quốc tế về việc Trung Quốc xử lý đại dịch coronavirus. Báo cáo cũng cho rằng sẽ có thêm nhiều hạn chế nữa từ phía Bắc Kinh đối với hàng xuất khẩu của Australia, bao gồm xuất khẩu vàng, alumin - một loại nguyên liệu dùng trong công nghiệp - và “một loạt các mặt hàng nhỏ hơn”.

Theo Capital Economics, tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ đang ở trong “tuyến lửa” chiếm khoảng gần một phần tư kim ngạch xuất khẩu của Australia sang Trung Quốc và chiếm khoảng 1,8% sản lượng kinh tế của nước này.

Kinh tế Australia gặp khó

Hiện còn một mặt hàng xuất khẩu quan trọng nữa của Australia là quặng sắt cũng đang được giới quan sát qua tâm theo dõi khi căng thẳng Australia – Trung Quốc gia tăng, bởi Australia hiện là nhà sản xuất quặng sắt lớn nhất thế giới.

Nhưng nhiều chuyên gia cho rằng, xuất khẩu quặng sắt có thể sẽ được Trung Quốc tiếp tục “bỏ qua”, do Australia hiện đang đáp ứng một nửa nhu cầu của Trung Quốc. Trung Quốc nhập khẩu 60% quặng sắt từ Australia và phụ thuộc nhiều vào hàng hóa được sử dụng để sản xuất thép. Các nhà phân tích cho rằng việc thiếu các lựa chọn thay thế sẵn có có thể là lý do tại sao đến nay quặng sắt không bị loại khỏi cuộc chiến thuế quan giữa hai quốc gia này.

Giá quặng sắt gần đây đã tăng đột biến do nhu cầu từ Trung Quốc tăng, và tiếp tục bị ảnh hưởng bởi nguồn cung giảm và gián đoạn do bão đổ bộ vào Australia. “Chúng tôi vẫn nghĩ rằng xuất khẩu quặng sắt sẽ không còn… Trung Quốc sẽ không thể đáp ứng tất cả các nhu cầu hiện tại của mình nếu không có Australia”, Marcel Thieliant - nhà kinh tế cấp cao của Capital Economics cho biết.

Bên cạnh đó, theo nhà kinh tế này, Australia có thể giảm bớt nỗi đau bằng cách tìm các điểm đến khác cho hàng xuất khẩu của mình. Tuy nhiên “dù Australia có thể chuyển một số lô hàng sang các nước khác, nhưng cuộc chiến thương mại leo thang là một lý do khác khiến nền kinh tế Australia sẽ không bao giờ quay trở lại con đường tiền virus ngay cả khi đại dịch đã được kiểm soát”, Marcel Thieliant nhận định.

Hiện căng thẳng giữa hai bên vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lại, vì thế tổn hại với kinh tế Australia có thể cũng sẽ chưa dừng ở con số thiệt hại như đã nêu trên. Nhà kinh tế Marcel Thieliant cho biết, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Australia có thể bị thu hẹp hơn nữa nếu Trung Quốc tiếp tục tăng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu của nước này. “Con số đó có thể tăng lên khoảng 2,8% GDP của Australia nếu Trung Quốc nhắm mục tiêu vào các sản phẩm khác mà nước này không phụ thuộc quá nhiều vào hàng nhập khẩu của Australia”, Thieliant nói.

Trong khi theo Capital Economics, GDP của quốc gia này có thể giảm khoảng 1,5 điểm phần trăm so với giai đoạn trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát vào cuối năm 2022 và các biện pháp hạn chế thương mại bổ sung của Trung Quốc có thể làm tăng thêm sự suy giảm đó.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.975 23.175 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.934 23.177 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.970 23.165 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.980 23.160 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.977 23.189 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.946 23.171 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.950
56.520
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.950
56.500
Vàng SJC 5c
55.950
56.520
Vàng nhẫn 9999
54.800
55.350
Vàng nữ trang 9999
54.450
55.150