Kinh tế đình lạm - bài toán khó của các ngân hàng trung ương

07:00 | 22/10/2021

Đình lạm có thể chưa phải hoàn toàn chính xác để miêu tả về thực trạng kinh tế toàn cầu hiện nay. Nhưng đối với một nền kinh tế vẫn đang cố gắng tìm vị thế và hướng đi sau đại dịch Covid - khi xảy ra đồng thời tình trạng tăng trưởng thấp đi và lạm phát cao hơn - thì có lẽ cũng không có cụm từ nào khác để phản ánh chính xác hơn. Và các dự báo tức thời (nowcasts) mới nhất từ Bloomberg Economics càng cho thấy thực trạng này.

Tăng trưởng thấp kéo dài

Trên khắp Hoa Kỳ, Châu Âu và Châu Á, các dự báo tức thời đều báo hiệu sự phục hồi chậm lại, với hoạt động kinh tế còn thấp hơn khá nhiều so với xu hướng trước đại dịch. Đáng lo ngại hơn là ở nhiều nền kinh tế lớn, lạm phát dường như sẽ tiếp tục duy trì xu hướng cao hơn so với mức mục tiêu mà nhiều ngân hàng trung ương (NHTW) đặt ra. Tại Hoa Kỳ, sau quý III chịu sự suy giảm vì biến thể Delta, các dự báo tức thời mới nhất cho thấy hiệu suất chưa cải thiện và tiếp tục mờ nhạt trong quý IV. Triển vọng khó khăn đó càng khiến lạm phát tiếp tục duy trì ở mức cao.

Ở Trung Quốc, với các áp lực tích lũy của vụ việc từ tập đoàn bất động sản Evergrande, tình trạng thiếu điện và rủi ro do biến thể Delta cũng khiến triển vọng tăng trưởng đang có xu hướng chậm lại vào năm 2022. Các dấu hiệu ban đầu theo dự báo tức thời mới nhất của Bloomberg Economics là mức tăng trưởng quý IV của kinh tế Trung Quốc chỉ tăng ở mức 4,3% so với cùng kỳ năm ngoái - tức là còn một chặng đường dài so với xu hướng tăng trưởng quanh 6% trước đại dịch.

kinh te dinh lam bai toan kho cua cac ngan hang trung uong
Các dự báo tức thời (nowcasts) mới nhất từ Bloomberg Economics cho thấy tăng trưởng sẽ tiếp tục chậm lại ở các nền kinh tế lớn trong quý IV/2021

Những “đòn tấn công” vào nguồn cung không chỉ khiến triển vọng tăng trưởng yếu hơn ở hầu hết các nền kinh tế lớn suy giảm, mà còn có nguy cơ tiếp tục đẩy lạm phát lên cao hơn. Đây chính là một “sự kết hợp không được hoan nghênh” lúc này và đặt nhiều NHTW trước bài toán khó có câu trả lời dễ dàng. Theo các chuyên gia kinh tế Bjorn Van Roye và Tom Orlik của Bloomberg, những rủi ro từ mùa hè tiếp tục kéo qua mùa đông này. “Với hàng triệu người vẫn không có việc làm và lạm phát tăng cao, các NHTW thực sự đang phải đối mặt với tình trạng đình lạm”, các chuyên gia này nhận định.

Từ doanh số bán lẻ tại Hoa Kỳ đến sản lượng của các nhà máy tại Trung Quốc, các dự báo tức thời của Bloomberg Economics đã hợp nhất hàng trăm đầu dữ liệu để cung cấp tần số quyét cao nhất về triển vọng tốc độ tăng trưởng và mức độ lạm phát của các nền kinh tế lớn trước khi các dữ liệu chính thức được công bố. Và các kết quả nowcasts mới nhất cho thấy, cho đến hết năm nay sản lượng ở hầu hết các nền kinh tế lớn dù tiếp tục phục hồi nhưng vẫn còn một khoảng cách xa so với xu hướng trước đại dịch, thậm chí một số nền kinh tế có nguy cơ chệch hướng (quay lại suy giảm).

Lựa chọn chính sách khó khăn

Trong bối cảnh bình thường, sự trì trệ của nền kinh tế thường có nghĩa là tuy tăng trưởng khó khăn nhưng lạm phát cũng ở mức thấp hơn. Nhưng trong một thế giới vẫn đang “đảo lộn” để tìm kiếm sự phục hồi vì/do Covid, nếu miêu tả sự trì trệ của nền kinh tế theo logic thông thường như vậy không còn đúng. Thiếu hụt nguồn cung, tắc nghẽn cảng, giá container tăng vọt và giá năng lượng cũng như nhiều hàng hóa cơ bản khác tăng cao kết hợp lại cho thấy một điểm chung là, ngay cả khi sản lượng vẫn dưới mức tiềm năng thì lạm phát ở nhiều quốc gia đã vượt rất xa mục tiêu mà các NHTW đặt ra.

Ở Mỹ, lạm phát đã sẵn sàng kết thúc năm nay ở mức trên 4% - tức cao hơn gấp đôi so với mục tiêu 2% của Fed. Tại Vương quốc Anh và Khu vực đồng Euro, các dự báo tức thời cho thấy CPI quý IV sẽ trên 3%. Trong khi đó bức tranh ở Trung Quốc có thể khác một chút. Mặc dù chỉ số giá sản xuất (PPI) của nước này tăng “cao ngất trời”, lên mức cao kỷ lục trong hơn một thập kỷ thì cho đến nay, người tiêu dùng chưa bị sốc vì CPI vẫn ở mức khá thấp khi giá các hàng hóa tiêu dùng không bị tăng mạnh.

Đối với các NHTW lớn nhất thế giới, khi đà phục hồi kinh tế yếu đi xảy ra cùng lúc với lạm phát tăng cao có nghĩa họ đang bị đặt trong một tình huống rất phức tạp. Nếu rút bỏ các biện pháp kích thích để kiềm chế lạm phát sẽ không khác gì tạo ra thêm lực cản cho sự phục hồi kinh tế trong bối cảnh vẫn có hàng triệu người lao động vẫn chưa trở lại với công việc. Nhưng nếu tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng bằng cách duy trì các biện pháp kích thích và tiền tệ nới lỏng cũng khiến nguy cơ giá cả càng “có thêm xung lực” để tiếp tục vòng xoáy đi lên.

Cho đến nay, Fed và NHTW Châu Âu ECB dường như đang cố gắng thực hiện một hành động cân bằng - báo hiệu cảnh giác cao với lạm phát mà không cần thực hiện các bước thắt chặt sớm. Trong khi đó, NHTW Anh (BoE) có khuynh hướng diều hâu hơn khi cảnh báo khả năng tăng lãi suất vào cuối năm. Tất nhiên nếu đà tăng giá ở mức cao tiếp tục duy trì, nhiều khả năng Fed và ECB cũng phải đối mặt với các quyết định khó khăn tương tự.

Tại Trung Quốc, NHTW nước này lại phải đối mặt với một sự đánh đổi khác - giữa hỗ trợ tăng trưởng với chính sách nới lỏng hơn và áp lực phải giảm thiểu rủi ro bong bóng tín dụng bằng việc thắt chặt hơn. Các dấu hiệu mới nhất cho thấy hỗ trợ tăng trưởng vẫn sẽ là ưu tiên. Chang Shu, chuyên gia kinh tế trưởng khu vực châu Á của Bloomberg Economics dự báo vào trước cuối năm nay sẽ có một quyết định cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc - cách để “giải phóng” vốn giúp các ngân hàng tăng cho vay ra.

Ở các thị trường mới nổi khác, các NHTW sẽ không có được các công cụ “xa xỉ” đó. Brazil, Mexico và Nga đã bắt tay vào các chu kỳ thắt chặt và thậm chí còn phải làm mạnh hơn nữa. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, theo chỉ thị của Tổng thống Erdogan, NHTW nước này đang cố gắng đi ngược logic kinh tế bằng việc cắt giảm lãi suất bất chấp lạm phát cao hai con số, khiến đồng Lira suy yếu xuống các mức thấp kỷ lục.

Hồng Quân

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.780 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.810 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.795 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.800 23.050 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.820 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.830 23.060 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.790 23.055 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.860 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.250
60.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.250
60.950
Vàng SJC 5c
60.250
60.970
Vàng nhẫn 9999
51.650
52.350
Vàng nữ trang 9999
51.350
52.050