Kinh tế khu vực EU đang gặp khó

09:29 | 19/02/2020

Số liệu thống kê mới nhất cho thấy tăng trưởng kinh tế khu vực EU trong quý cuối năm 2019 đã giảm xuống chỉ còn đạt mức 0,9% so với cùng kỳ, mức thấp nhất kể từ cuối năm 2013.

EVFTA và EVIPA mở ra một chương mới về tăng cường thương mại giữa châu Âu - Việt Nam
Những khó khăn của kinh tế châu Âu năm 2020
Hãng máy bay Airbus đang dính đến kiện tụng

Với xu hướng suy giảm liên tục của tăng trưởng qua các quý trong năm vừa qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2019 của cả khu vực chỉ đạt 1,2%, thấp hơn rất nhiều mức dự báo 1,6% trước đó và là mức tăng tồi tệ nhất kể từ cuộc suy thoái năm 2013.

Lời giải thích cho sự giảm tốc này là do cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã diễn ra mạnh mẽ hơn, khiến ngành công nghiệp của nước Đức rơi vào suy thoái. Nước Đức, một trong những động lực tăng trưởng chính của Eurozone, hiện đang dậm chân tại chỗ, kéo theo sự ảnh hưởng đến cả khu vực. Bên cạnh đó, những lo ngại xoay quanh thỏa thuận Brexit mới ký kết với Anh hay những lo ngại về dịch Covid-19 mới bùng phát từ đầu năm nay càng làm trầm trọng hơn triển vọng tăng trưởng kinh tế khu vực trong năm 2020.

Hiện nay, các tổ chức kinh tế khá đồng thuận trong việc đưa ra những nhận định kém lạc quan hơn về triển vọng tăng trưởng kinh tế khu vực EU trong năm tới. 

ECB đã dự báo kinh tế khu vực Eurozone tăng trưởng 1,1% trong năm 2020, giảm so với con số 1,2% năm 2019, 1,8% (2018) và 2,4% (2017). Tuy nhiên, một cuộc khảo sát của tờ Financial Times cho thấy 34 chuyên gia kinh tế tỏ ra bi quan hơn. Tính trung bình, số chuyên gia này dự báo rằng tăng trưởng sẽ chậm lại trong năm 2020 (năm thứ ba liên tiếp) và sẽ ở mức dưới 1%. Các nhà kinh tế của Vanguard và Oxford Economics dự đoán, GDP của Eurozone sẽ chỉ tăng 1% trong năm nay, trong khi đó tổ chức Nomura đưa ra mức dự đoán là 0,9%, hoặc thậm chí chỉ 0,5% như dự báo của Capital Economics.

Theo nhận định của các nhà kinh tế, hiện nay EU đang gặp nhiều hạn hẹp để có thể triển khai không gian chính sách khi hai đòn bẩy chính mà các chính phủ có thể sử dụng là kích thích tiền tệ và kích thích tài khóa sẽ không có điều chỉnh nhiều trong năm 2020. 

Từ cuối tháng 10 năm ngoái, ECB tiếp tục các biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ. Theo đó, lãi suất tái cấp vốn chủ chốt ở mức 0%, lãi suất công cụ cho vay cận biên ở mức -0,25% và lãi suất tiền gửi cơ bản ở mức -0,5%. Chương trình mua trái phiếu trị giá 20 tỷ euro/tháng (tương đương 22 tỷ USD) được tái khởi động từ tháng 11/2019 nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế cho khu vực. Tuy nhiên, với mức độ nới lỏng đã quá mạnh mẽ như hiện tại, không có nhiều khả năng ECB sẽ thay đổi định hướng điều hành chính sách từ nay cho đến cuối năm 2020.

Về mặt chính sách tài khóa, giữ nguyên hiện trạng là xu hướng chiếm ưu thế. Các quốc gia như Pháp, Italy, Tây Ban Nha… vốn đã chịu khá nhiều áp lực căng thẳng ngân sách trong thời gian trước đây và mới chỉ khôi phục lại mức cân bằng tài khóa, do đó rất khó có khả năng để cho các nền kinh tế này thực hiện các gói kích thích tài khóa trong thời gian tới.

Về phía Đức, các nhà kinh tế kỳ vọng quốc gia này sẽ nới lỏng ngân sách một chút vào năm 2020, nhưng khả năng tung ra một gói kích thích mạnh là rất thấp. Một số chuyên gia của Vanguard nhận định, về mặt lý thuyết, Đức có thể đủ khả năng tung ra một gói kích thích tài khóa trị giá đến 2% GDP mà không làm tăng tỷ lệ nợ công nhưng khả năng để Đức thực hiện điều này vẫn rất khó xảy ra.

Trong bối cảnh bó buộc về mặt chính sách như vậy, để kích thích tăng trưởng, kinh tế khu vực EU sẽ vẫn phải trông đợi nhiều vào những thay đổi trong môi trường kinh tế quốc tế. Những tiến triển gần đây trong mối quan hệ thương mại Mỹ - Trung có thể là một tín hiệu tốt đối với tăng trưởng kinh tế khu vực.

Tuy nhiên, những lo ngại mới phát sinh xoay quanh khả năng Mỹ sẽ áp thuế nhập khẩu đối với mặt hàng ô tô sản xuất tại khu vực châu Âu hay những tranh cãi kiện tụng gia tăng gần đây giữa hai nhà sản xuất máy bay hàng đầu là Boeing và Airbus khiến dư luận đang hoài nghi về triển vọng thương mại giữa hai nền kinh tế hàng đầu thế giới trong năm 2020.

Bên cạnh đó, những điều không chắc chắn xung quanh tiến trình Brexit vẫn chưa mất đi. Phải thừa nhận rằng, chiến thắng của ông Boris Johnson trong cuộc bầu cử lập pháp vào giữa tháng 12/2019 có nghĩa là Vương quốc Anh chắc chắn sẽ rời EU vào ngày 31/1. Tuy nhiên, một thỏa thuận thương mại tự do trong tương lai giữa London và Brussels vẫn sẽ được đàm phán. Cùng với đó, mọi kịch bản vẫn còn trên bàn đàm phán, từ một Vương quốc Anh gần gũi về kinh tế với EU đến khả năng quan hệ hai bên bị phá vỡ đột ngột.

Ngoài ra, EU cũng sẽ phải đối phó với những mối đe dọa to lớn từ các thảm họa, thiên tai, dịch bệnh đã, đang và sẽ diễn ra. Các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt và cực đoan đang thúc ép EU phải tăng cường các nguồn ngân sách dành cho hoạt động sinh thái, bảo vệ môi trường để chống lại biến đổi khí hậu trong khi đó những diễn biến bất thường của dịch Covid-19 sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu, trong đó có khu vực EU.

Thái Hồng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.440 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.460 23.640 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.425 23.615 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.630 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.450 23.620 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.435 23.620 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.460 23.620 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.500 23.610 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.200
48.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.200
48.200
Vàng SJC 5c
47.200
48.220
Vàng nhẫn 9999
44.600
45.800
Vàng nữ trang 9999
44.300
45.600