Kinh tế Mỹ đón tin tốt

08:10 | 12/08/2022

Khi tình hình dịu đi trong tháng 7, có nhiều ý kiến cho rằng nền kinh tế số 1 thế giới đã qua đỉnh điểm lạm phát. Tạm thời, đây là thông tin không thể tốt hơn với kinh tế Mỹ nói riêng và toàn cầu nói chung, trong bối cảnh “tin xấu” vẫn bủa vây.

Lạm phát giảm, giá thực phẩm vẫn tăng

Theo số liệu Cơ quan Thống kê Lao động Mỹ công bố hôm thứ Tư, lạm phát đã giảm nhẹ trong tháng 7, với CPI tăng 8,5% so với cùng kỳ năm ngoái, tốc độ tăng chậm hơn so với mức tăng 9,1% trong tháng 6 và thấp hơn mức 8,7% như kỳ vọng của thị trường. “Tôi nghĩ lạm phát có lẽ đã đạt đỉnh điểm so với cùng kỳ năm trước”, Bill Adams, chuyên gia kinh tế trưởng tại Ngân hàng Comerica, nhận định.

Trên cơ sở từng tháng, lạm phát tháng 7 là 0%, trong khi tháng 6 ghi nhận mức tăng 1,3%. Giá cả tại Mỹ bắt đầu tăng mạnh vào đầu năm 2021, với tỷ lệ lạm phát gần như đã tăng gấp đôi trong năm qua. Tuy CPI tính theo tháng đã “dậm chân tại chỗ” trong tháng trước nhưng người dân Mỹ vẫn nhận thấy mình đang phải trả nhiều hơn cho các hàng hóa, vật dụng sinh hoạt hàng ngày như gas và trứng, cũng như các khoản mua sắm lớn hơn như xe cộ. Trong khi chi tiêu của người tiêu dùng vẫn chưa giảm, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy giá cả tăng đang làm xói mòn niềm tin và thay đổi hành vi.

kinh te my don tin tot
Lạm phát tại Mỹ đã hạ nhiệt trong tháng 7

Chỉ số giá tiêu dùng là một “ảnh chụp nhanh tổng hợp” của nhiều loại hàng hóa và dịch vụ mà người Mỹ mua. Vào tháng 7, giá xăng giảm mạnh đã giúp bù đắp cho những tác động của giá thực phẩm và nhà ở cao hơn. Lạm phát cơ bản - không bao gồm thực phẩm và nhiên liệu - đã tăng 5,9% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 0,3% so với tháng 6, cho thấy áp lực lạm phát về cơ bản vẫn tăng.

Chi phí tiêu dùng của người dân Mỹ “dễ thở” hơn trong tháng vừa qua nhờ chi phí năng lượng đã giảm tới 4,6% (mặc dù mức này vẫn cao hơn 32,9% so với một năm trước). Trong đó, giá xăng dầu giảm tới 7,7% so với tháng trước (nhưng vẫn cao hơn 44% so với cùng kỳ năm trước), giúp các tài xế bớt căng thẳng hơn rất nhiều. Tuy nhiên, chi phí thực phẩm tiếp tục tăng mạnh, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng lớn nhất kể từ tháng 5/1979. Việc giá thực phẩm tăng là một điều khá bất ngờ, bởi giá năng lượng thấp hơn được cho là sẽ giúp giảm bớt cú sốc giá hàng hóa tăng liên tục mà người Mỹ phải trải qua khi đi siêu thị trong nhiều tháng qua.

Cùng đóng góp vào CPI tăng là giá xe mới, mặc dù mức tăng đã chậm lại (chỉ tăng 0,6% trong khi tháng 6 tăng 0,7%). Giá ô tô và xe tải đã qua sử dụng giảm 0,4% và giá vé máy bay giảm 7,8%. Tốc độ tăng chi phí nhà ở cũng giảm nhẹ, với sự gia tăng của chi phí nhà ở tổng thể, tiền thuê nhà và tiền thuê nhà tương đương của chủ sở hữu đều giảm nhẹ so với tháng trước. Tuy nhiên, chi phí nhà ở vẫn tăng 5,7% so với cùng kỳ năm ngoái.

Có thể giảm nhẹ mức tăng lãi suất

Nhà ở cũng là một yếu tố cấu thành quan trọng trong CPI, do các khoản thanh toán thế chấp hoặc tiền thuê nhà thường là chi phí hàng tháng lớn nhất của các hộ gia đình. Nhà ở chiếm khoảng 1/3 CPI và chiếm khoảng 40% CPI cơ bản. Mặc dù lãi suất thế chấp tăng đã làm giảm doanh số bán nhà ở, nhưng việc thiếu nguồn cung đã đẩy giá lên mức cao mới. Các chuyên gia kinh tế lo ngại áp lực giá nhà ở tăng sẽ “khó thay đổi” hơn một số áp lực lạm phát khác. “Có một sự không phù hợp đáng kể, và gần như mang tính cấu trúc, giữa cung và cầu nhà ở”, Ross Mayfield, nhà phân tích chiến lược đầu tư tại Baird nhận định.

Trong khi đó Dawit Kebede, nhà kinh tế cấp cao tại Credit Union cho rằng, độ trễ lớn giữa thời điểm giá nhà ở tăng và khi chúng được phản ánh đầy đủ trong CPI có nghĩa là nhà ở có thể tiếp tục gây áp lực lên cả chỉ số lạm phát chính và lạm phát cơ bản trong một năm hoặc lâu hơn nữa. Giá nhà tăng vọt khiến nhiều người trẻ tuổi và những người có thể mua nhà tương lai khác khó khăn hơn để mua một căn nhà mới. Đây cũng là nguyên nhân khiến một lượng lớn người dân đang ở nhà thuê lâu hơn so với dự định.

CPI liên tục tăng đặt ra thách thức ngày càng lớn đối với Fed trong thực hiện cam kết kiềm chế giá cả tăng vọt nhưng cùng lúc phải cố gắng tránh đẩy nền kinh tế vào suy thoái. Mặc dù lạm phát đã hạ nhiệt trong tháng 7 nhưng nhiều chuyên gia cho rằng Fed sẽ vẫn tiếp tục mạnh tay thắt chặt CSTT. “Ngay cả khi lạm phát tổng thể giảm tốc nhờ giá năng lượng lao dốc, thì lạm phát cơ bản vẫn ở mức rất cao. Fed có khả năng sẽ tiếp tục thắt chặt chính sách vì lo ngại lạm phát cao sẽ ảnh hưởng đến kỳ vọng lạm phát của người tiêu dùng”, chuyên gia kinh tế Blerina Uruci tại T. Rowe Price Group Inc nhận định.

Mặc dù tăng trưởng tiền lương mạnh mẽ đã giúp giảm bớt tác động của chi phí cao hơn mà các gia đình Mỹ đang phải đối mặt, nhưng các chuyên gia cảnh báo điều này cũng có thể góp phần khiến lạm phát kéo dài hơn nữa. “Tôi nghĩ rằng sẽ có nhiều áp lực hơn một chút nếu chỉ dựa vào thị trường lao động”, chuyên gia Mayfield nói. Nhu cầu đối với người lao động hiện nay rất cao: Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm xuống 3,5% vào tháng 7 nhờ sức mạnh của 528.000 việc làm mới, trong khi tiền lương tăng với tốc độ hàng năm là 5,2%.

Ông Bill Adams nhận định trong thời gian tới, tình trạng khan hiếm lao động sẽ tạo đáy cho việc lạm phát có thể giảm tới mức nào. Chuyên gia này lưu ý rằng, thị trường lao động đã bắt đầu có dấu hiệu “mệt mỏi”, với số lượng đơn đề nghị xin trợ cấp thất nghiệp hàng tuần lần đầu bắt đầu tăng lên và các báo cáo về việc sa thải nhân viên trong một số ngành. “Vào năm tới, tôi hy vọng tình trạng khan hiếm lao động và áp lực tiền lương sẽ không phải là yếu tố gây ra lạm phát so với hiện tại”, Adams cho biết.

Chủ tịch Fed Jerome Powell thì cho biết, Fed muốn thấy bằng chứng rõ ràng và thuyết phục về việc giảm bớt áp lực lạm phát trước khi giảm tốc hoặc ngừng tăng lãi suất. Tuy nhiên trên thị trường sau khi dữ liệu lạm phát hôm thứ Tư được công bố, kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục nâng lãi suất chuẩn thêm 75 điểm cơ bản tại cuộc họp chính sách tiếp theo đã giảm kể. Nhiều nhà phân tích hiện kỳ vọng Fed sẽ chỉ tăng lãi suất thêm 50 điểm cơ bản trong cuộc họp chính sách sẽ diễn ra sau 6 tuần nữa.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
3,80
-
3.90
6.90
-
7.50
7.60
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,50
3,70
3,80
5,20
5,35
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,95
3,25
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,50
3,50
3,80
4,47
4,45
5,49
5,34
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,10
6,20
6,70
7,00
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,40
5,40
5,90
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.535 23.845 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.565 23.845 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.545 23.845 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.550 23.830 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.570 23.830 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.530 23.900 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.585 23.960 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.558 23.850 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.520 23.990 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.610 23.860 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.800
66.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.800
66.600
Vàng SJC 5c
65.800
66.620
Vàng nhẫn 9999
50.450
51.350
Vàng nữ trang 9999
50.350
50.950