Kinh tế Trung Quốc có rơi vào trì trệ?

09:10 | 27/07/2022

Trong khi một số nhà kinh tế lo ngại kinh tế Trung Quốc có thể đối mặt với một thời kỳ khá dái tăng trưởng thấp theo kiểu Nhật Bản, song một số khác lại tin rằng Trung Quốc sẽ tránh được tình trạng trì trệ kiểu Nhật Bản nếu có các chính sách đúng đắn.

Bi quan…

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc hầu như không tăng trong quý thứ hai khi mà các biện pháp đóng cửa kiểm soát dịch Covid đã gây tổn thương cho hoạt động sản xuất và tiêu dùng.

Với thực trạng hiện nay, không ít nhà kinh tế tỏ ra lo ngại kinh tế Trung Quốc có thể rơi vào tình trạng trì trệ theo kiểu Nhật Bản. Thậm chí theo Michael Pettis - Giáo sư tài chính tại Đại học Bắc Kinh, “Trung Quốc có một phiên bản thậm chí còn khắc nghiệt hơn của sự mất cân bằng của Nhật Bản, khiến việc thúc đẩy tăng trưởng dựa trên tiêu dùng nội địa trở nên khó khăn hơn”.

kinh te trung quoc co roi vao tri tre
Theo các chuyên gia kinh tế, Trung Quốc nên dựa vào tiêu dùng để thúc đẩy tăng trưởng

Nền kinh tế Nhật Bản đã đình trệ, nhìn chung tăng trưởng chậm hơn Mỹ và Trung Quốc kể từ những năm 1990, sau khi bong bóng chứng khoán và bất động sản bùng nổ. Giáo sư Pettis cho biết, kinh tế Nhật Bản phát triển nhanh chóng trong những thập niên 70-80 của thế kỷ trước nhờ tăng trưởng cao trong xuất khẩu và đầu tư cơ sở hạ tầng. Nhưng đến đầu những năm 1990, nước này ngày càng đầu tư vào các dự án lãng phí. Ông cho biết, Nhật Bản đã không thể hướng tới người tiêu dùng để thúc đẩy tăng trưởng - chủ yếu là do lĩnh vực sản xuất đã không thể chấp nhận sự chuyển đổi cần thiết sang mức lương cao hơn.

Nhà kinh tế này đã viết vào tháng 4 rằng, Trung Quốc có thể tránh được việc phải đi theo con đường của Nhật Bản nếu như có những chính sách đúng đắn. Tuy nhiên theo ông, kịch bản có nhiều khả năng hơn là Trung Quốc không bước vào một cuộc khủng hoảng tài chính hay khủng hoảng kinh tế gay gắt, mà thay vào đó nhiều khả năng nước này sẽ phải “đối mặt với một thời kỳ tăng trưởng thấp theo kiểu Nhật Bản rất dài”.

Nếu đầu tư không hiệu quả - chủ yếu vào cơ sở hạ tầng và tài sản - bị suy giảm và không được thay thế bằng nguồn tăng trưởng tương đương, GS. Pettis ước tính, GDP của Trung Quốc sẽ tăng không quá 2% hoặc 3% mỗi năm trong những năm tới.

Trên thực tế, nhiều ngân hàng đầu tư đã cắt giảm dự báo tăng trưởng của Trung Quốc xuống dưới 4% do chính sách zero-Covid của nước này.

…và lạc quan

Tuy nhiên nhiều nhà kinh tế khác lại cho rằng, có nhiều tiềm năng tăng trưởng của Trung Quốc chưa được khai thác hết. Đầu tiên là mức thu nhập của đất nước và chi tiêu về mặt lý thuyết có nhiều khả năng để tăng. Theo số liệu của WB, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc năm 2021 gần bằng 1/5 của Mỹ và thu nhập quốc dân ròng trên đầu người đã điều chỉnh bằng khoảng 1/7 của Mỹ.

“Do dư địa vẫn còn, Trung Quốc vẫn sẽ duy trì mức tăng trưởng 4% đến 5% trong vòng 5 đến 10 năm tới”, Larry Hu - Nhà kinh tế trưởng về Trung Quốc tại Macquarie cho biết. Mặc dù vậy nhà kinh tế này cũng thừa nhận, có những bất ổn có thể ảnh hưởng đến ước tính của ông, bao gồm cả việc liệu Trung Quốc có thể chuyển từ dựa vào đầu tư sang tiêu dùng để tăng trưởng hay không.

Một lĩnh vực tiềm năng khác là kế hoạch của Trung Quốc nhằm thống nhất các tiêu chuẩn kinh doanh và khả năng tiếp cận thị trường trong nước, Dan Wang - Nhà kinh tế trưởng tại Hang Seng Bank China cho biết và chỉ ra rằng các quy định hiện tại có thể ưu ái một công ty từ một thành phố địa phương hơn một công ty từ tỉnh khác. “Một khi những rào cản đó có thể được dỡ bỏ... điều đó có thể tăng thu nhập lên rất nhiều”, bà nói. Wang cũng cho biết nhu cầu ở nước ngoài và việc tăng cường đầu tư vào lĩnh vực sản xuất ở Trung Quốc có thể hỗ trợ tăng trưởng trong những năm tới.

Zong Liang - Trưởng nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Trung Quốc đã bác bỏ khả năng Trung Quốc có thể phải đối mặt với tình trạng trì trệ kinh tế kiểu Nhật Bản. Ông cho biết Trung Quốc luôn kiểm soát tiền tệ của mình, trong khi đồng yên của Nhật Bản biến động quá nhanh. Zong cũng chỉ ra sự đầu tư và khả năng tự lực của Trung Quốc trong đổi mới công nghệ.

Đối với tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới, ông hy vọng kích thích kinh tế được công bố vào tháng 5 sẽ có hiệu lực trong quý III hoặc quý IV và một số lợi ích từ thương mại gia tăng theo các hiệp định thương mại tự do khu vực mới.

Tuy nhiên, Zong cho biết Trung Quốc cũng phải đối mặt với những thách thức tương tự như Nhật Bản khi nhìn vào thị trường nhà ở. Bên cạnh đó còn một khó khăn nữa là tình trạng già hóa dân số, một vấn đề mà theo Zong “đáng được chúng ta quan tâm”.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.705 24.015 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.735 24.015 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.718 24.018 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.710 24.010 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 23.990 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.730 24.030 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.728 24.020 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.710 24.080 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.780 24.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
64.700
65.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
64.700
65.700
Vàng SJC 5c
64.700
65.720
Vàng nhẫn 9999
52.250
53.250
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.850