Kinh tế Trung Quốc đang đi chậm lại

07:00 | 20/10/2021

Ông Fu Linghui, Phát ngôn viên của Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc cho biết, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc chỉ tăng 4,9% trong quý III/2021.

Theo các nhà phân tích thăm dò ý kiến của Reuters, đây là một tỷ lệ đáng thất vọng so với kỳ vọng đặt ra là 5,2%. Sản xuất công nghiệp chỉ tăng 3,1% trong tháng 9, thấp hơn mức 4,5%.

Đặc biệt, tình trạng thiếu điện đã có một “tác động nhất định” đến tình hình sản xuất. Nhiều nhà máy đã phải ngừng sản xuất vào cuối tháng 9 do giá than tăng cao và thiếu điện trầm trọng khiến chính quyền địa phương phải cắt điện đột ngột. Chính phủ trung ương đã nhấn mạnh sẽ thúc đẩy cung cấp than và đảm bảo cung cấp điện. Tình trạng này xảy ra do cuối năm 2020, Trung Quốc đã ngừng mua than từ Australia (từng là nguồn nhập khẩu than lớn nhất của nước này). Căng thẳng chính trị giữa hai quốc gia đã leo thang sau khi Australia hỗ trợ một cuộc điều tra về cách Bắc Kinh xử lý nguồn lây của đại dịch coronavirus.

kinh te trung quoc dang di cham lai
Ảnh minh họa

Trong khi đó, thời tiết lạnh giá lịch sử cũng đã làm tăng nhu cầu về than. Một số thành phố được báo cáo là đã hạn chế sử dụng điện trong gia đình và nhà máy. Cùng với sự gia tăng giá hàng hóa toàn cầu, nguồn nhiên liệu chính để sản xuất điện là than đã chứng kiến sự tăng giá hơn 40% trong 12 tháng qua, lên mức khoảng 777 Nhân dân tệ/tấn (119,53 USD). Trong khi Trung Quốc cố gắng chuyển sang năng lượng tái tạo, thì một đợt hạn hán nghiêm trọng đã ập đến và kéo theo sự sụt giảm lượng điện của trung tâm thủy điện thuộc tỉnh Vân Nam.

Theo đại diện Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia, năng lượng sản xuất bằng thủy điện đã giảm hơn 4% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn năng lượng gió tạo ra cũng chậm lại.

Dữ liệu từ Cục Thống kê Quốc gia cho thấy, đầu tư vào tài sản cố định cũng yếu hơn dự kiến. Ông Chaoping Zhu, Chiến lược gia thị trường toàn cầu của JP Morgan Asset Management cho biết, nhiều hoạt động đầu tư đã bị giảm bớt do các điều kiện tín dụng thắt chặt. Đầu tư tài sản cố định trong tháng 9 đã giảm 2,5% so với một năm trước và kéo theo sự sụt giảm 3,5% vào đầu tư bất động sản.

Theo ước tính của Moody’s, bất động sản và các ngành liên quan chiếm khoảng 1/4 GDP của Trung Quốc. Trong 18 tháng qua, Bắc Kinh đã tăng cường nỗ lực để giảm sự phụ thuộc vào nợ của các nhà phát triển.

Cuộc khủng hoảng của gã khổng lồ Evergrande lên đến đỉnh điểm vào tháng 8, khi công ty cảnh báo về khả năng vỡ nợ và sau đó đã bỏ lỡ các khoản thanh toán cho nhiều nhà đầu tư trong khoản nợ bằng đô la Mỹ ở nước ngoài. Cục thống kê ghi nhận rằng đóng góp của lĩnh vực bất động sản vào nền kinh tế trong quý thứ ba đã chậm lại.

Tỷ lệ thất nghiệp thành thị trong tháng 9 là 4,9%. Tuy nhiên, tỷ lệ này ở những người từ 16 đến 24 tuổi vẫn cao hơn nhiều, ở mức 14,6%.

10 ngân hàng lớn được CNBC theo dõi đã cắt giảm dự báo GDP cả năm của Trung Quốc do tình trạng thiếu điện và nỗ lực kiềm chế nợ mở rộng trong lĩnh vực bất động sản gây thêm nhiều áp lực khác đối với tăng trưởng, chẳng hạn như chi tiêu tiêu dùng chậm lại.

Ông Bruce Pang, Đại diện của Tạp chí China Renaissance cho biết, sự phục hồi tăng trưởng từng dẫn đầu của Trung Quốc đang mất dần đà trong quý IV/2021 do một số yếu tố cản trở như các trường hợp lây nhiễm vi rút lẻ tẻ đến nỗ lực giảm phát thải carbon của Trung Quốc.

Hải Thanh

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.780 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.810 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.795 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.800 23.050 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.820 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.830 23.060 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.790 23.055 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.860 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.250
60.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.250
60.950
Vàng SJC 5c
60.250
60.970
Vàng nhẫn 9999
51.650
52.350
Vàng nữ trang 9999
51.350
52.050