Kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn vẫn còn tiềm ẩn rủi ro

19:50 | 23/05/2022

Báo cáo thẩm tra đánh giá bổ sung kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2021; tình hình thực hiện những tháng đầu năm 2022 trước Quốc hội sáng nay (23/5), Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết, bên cạnh kết quả đạt được cũng còn nhiều hạn chế, tồn tại, yếu kém cần khắc phục.

Thứ nhất, 5 chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng không đạt mục tiêu, tăng thêm 1 chỉ tiêu so với số đã báo cáo, chỉ tiêu tốc độ tăng năng suất lao động xã hội chỉ đạt 4,71% so với mục tiêu 4,8%.

Thứ hai, công tác phòng, chống dịch có lúc, có nơi còn bị động, lúng túng; năng lực y tế nhất là y tế cơ sở còn bất cập, sai phạm về đấu thầu, mua sắm vật tư, trang thiết bị y tế phòng, chống dịch COVID-19 xảy ra nhiều vụ việc nghiêm trọng. Cần khẩn trương có báo cáo với Quốc hội về kết quả huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch; chỉ rõ tồn tại, hạn chế, những chính sách chưa thực hiện được hoặc thực hiện chưa đầy đủ; các bộ, ngành, cơ quan, địa phương làm tốt hoặc làm chưa tốt.

uy ban kinh te quoc hoi vu hong thanh kinh te vi mo va cac can doi lon van con tiem an rui ro
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội Vũ Hồng Thanh

Thứ ba, thu ngân sách vượt dự toán nhưng chưa bền vững, thu từ dầu thô vượt 21,4 nghìn tỷ đồng do cả yếu tố tăng giá và tăng sản lượng khai thác; thu sử dụng đất tăng cao, vượt dự toán hơn 74 nghìn tỷ đồng nhưng đây là khoản thu không ổn định, không bền vững.

Ước thu ngân sách nhà nước đã báo cáo với Quốc hội có chênh lệch rất lớn với số thu thực tế (tăng hơn 9 lần từ 22 nghìn tỷ đồng lên hơn 202 nghìn tỷ đồng), làm ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng dự toán năm sau, thể hiện năng lực dự báo, phân tích còn yếu, đặc biệt, tình trạng này đã kéo dài trong nhiều năm.

Vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương giảm, tỷ trọng nguồn thu ngân sách trung ương năm 2021 ước khoảng 50,02%, giảm so với mức 52,2% của năm 2020 và giảm mạnh so với mức 61,8% năm 2011. Nợ đọng thuế tăng, tổng số nợ thuế nội địa là 115,014 nghìn tỷ đồng, tăng 20,4% so với cuối năm 2020.

Thứ tư, phân bổ, giao dự toán chi chậm, kéo dài. Giải ngân vốn đầu tư công không đạt kế hoạch, số vốn đầu tư xây dựng cơ bản chưa giải ngân của Trung ương là 71.600 tỷ đồng, trong đó có 16.000 tỷ đồng của các Chương trình mục tiêu quốc gia đều chưa được phân bổ, giải ngân trong năm 2021, phải chuyển nguồn sang năm 2022; giải ngân vốn ngoài nước chỉ đạt 32,85% dự toán; một số bộ, cơ quan trung ương giải ngân rất thấp, chỉ đạt dưới 20% kế hoạch, như Bộ Khoa học và Công nghệ 10,72%; Bộ Thông tin và Truyền thông 2,94%, Ủy ban Dân tộc 0%; Đại học Quốc gia TP. HCM 5,52%.

Thứ năm, tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; việc hoàn thiện quy định pháp luật về cổ phần hóa và sắp xếp, đổi mới các đơn vị sự nghiệp công còn rất chậm, không hoàn thành mục tiêu. Thu từ cổ phần hóa đạt thấp, chỉ đạt 4.402 tỷ đồng/40.000 tỷ đồng, bằng 11% dự toán trong khi thị trường chứng khoán năm 2021 phát triển mạnh, là điều kiện thuận lợi để có thể thoái vốn. Kết quả trên cho thấy, chính sách tháo gỡ, thúc đẩy cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp rất hạn chế, tổ chức thực hiện chưa quyết liệt nhưng chưa có người đứng đầu nào bị xử lý trách nhiệm trong việc chậm trễ thực hiện nhiệm vụ này.

Thứ sáu, nợ xấu tiềm ẩn nguy cơ gia tăng, trong trường hợp đánh giá một cách thận trọng, tại thời điểm 31/12/2021, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC và các khoản nợ tiềm ẩn thành nợ xấu là 6,31%; một số chuỗi sản xuất, cung ứng bị đứt gãy; khu vực dịch vụ gặp nhiều khó khăn; năng lực sản xuất công nghiệp chậm được cải thiện. Lao động tạm ngừng việc, thiếu, mất việc làm gia tăng; có 5/16 chỉ tiêu của ngành lao động - thương binh và xã hội và 3/18 chỉ tiêu ngành y tế không đạt chỉ tiêu của ngành được giao theo Nghị quyết số 01 của Chính phủ.

Về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2022, sau khi phân tích tình hình thế giới và trong nước, ông Vũ Hồng Thanh cho biết, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, Quốc hội, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều chính sách để hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

Đặc biệt, tại Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 43 về chính sách tài khóa, tiền tệ với quy mô lên đến 347.000 tỷ đồng và nhiều cơ chế, chính sách chưa có tiền lệ để hỗ trợ kịp thời cho phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, chủ động trong công tác phòng, chống dịch.

Đến nay, dịch bệnh được kiểm soát, nền kinh tế đang phục hồi và phát triển tích cực. GDP quý I ước tăng 5,03%, kinh tế vĩ mô ổn định, các ngành, lĩnh vực đang tăng trưởng trở lại. Trong 4 tháng đầu năm, hơn 30 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 60,6% so với cùng kỳ. Đời sống, việc làm người lao động, an sinh xã hội được bảo đảm; quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; công tác đối ngoại được tăng cường; SEA Games 31 được tổ chức rất thành công, để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong và ngoài nước…

Tuy nhiên, Chính phủ cần quan tâm, đánh giá kỹ hơn một số lĩnh vực.

Thứ nhất, kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn vẫn còn tiềm ẩn rủi ro, kiểm soát lạm phát gặp khó khăn, chỉ số CPI tháng 4 tăng 2,09% so với cuối năm 2021, gấp gần 2 lần so với cùng kỳ các năm 2018-2021. Giá dầu tăng cao tác động tiêu cực đến giá cả hàng hóa, nguyên vật liệu, chi phí vận chuyển.

Giai đoạn tới, cần đặc biệt chú ý về nguy cơ nhập khẩu lạm phát từ bên ngoài; nghiên cứu kịch bản tiếp tục giảm thuế tiêu thụ đặc biệt để ứng phó trong trường hợp giá dầu thế giới biến động lớn cũng như thực hiện hoãn, giãn việc tăng các sắc thuế, phí nhằm bình ổn giá các mặt hàng tiêu dùng khác.

Thứ hai, nguy cơ bùng phát dịch do các biến chủng mới vẫn hiện hữu, đe dọa tiến trình phục hồi của nền kinh tế. Tại một số nơi, một bộ phận người dân có biểu hiện chủ quan, lơ là trong công tác phòng, chống dịch, không thực hiện nghiêm túc theo quy định.

Thứ ba, giải ngân vốn đầu tư công vẫn trì trệ, tỷ lệ giải ngân 4 tháng đầu năm chỉ đạt 16,36% (thấp hơn mức 17,04% so với cùng kỳ năm 2021) trong khi nhiệm vụ giải ngân năm 2022 rất nặng nề; giải ngân vốn ngoài nước chỉ đạt xấp xỉ 4,4% kế hoạch; có tới 17 bộ, cơ quan trung ương chưa thực hiện giải ngân, cần phải làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm.

Ngoài ra, đề nghị báo cáo rõ khả năng hấp thụ nguồn vốn, hoàn thành kế hoạch; việc hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng cốt lõi, hệ thống định mức và đơn giá xây dựng làm chậm giải ngân đầu tư công và ảnh hưởng đến chi phí đầu tư công.

Thứ tư, các chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ thực hiện chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết số 43 của Quốc hội triển khai chậm, các chính sách quan trọng vẫn đang trong quá trình xây dựng hướng dẫn, chưa được áp dụng vào thực tiễn, như chính sách hỗ trợ lãi suất, triển khai chương trình “Sóng và máy tính cho em”, khơi thông nguồn vốn từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, hướng dẫn cơ chế đặc thù được quy định tại Nghị quyết...

Đến nay, Chính phủ mới trình bổ sung dự toán năm 2022 là 18.349 tỷ đồng cho các dự án đã có trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn, chỉ tương đương 16% tổng số vốn dành cho đầu tư phát triển của Chương trình cần được phân bổ, bổ sung dự toán, dẫn đến áp lực phải giải ngân, tăng bội chi rất lớn trong năm 2023; đồng thời, Chính phủ vẫn chưa hoàn thiện trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội Danh mục các dự án sử dụng nguồn vốn của Chương trình là quá chậm, làm giảm hiệu quả, ý nghĩa của Chương trình.

Thứ năm, thu ngân sách 4 tháng tăng 15,4% so với cùng kỳ, tuy nhiên, các khoản thu trực tiếp từ hoạt động sản xuất, kinh doanh vẫn còn thấp. Kế hoạch thu bảo đảm cân đối ngân sách còn nhiều thách thức. Thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước rất chậm, 4 tháng đầu năm đạt 1.967 tỷ đồng/30.000 tỷ đồng, bằng 6,5% dự toán.

Thứ sáu, nguy cơ nợ xấu tiềm ẩn; thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản có nhiều rủi ro, không bền vững, thiếu ổn định. Trên thị trường cổ phiếu đã xuất hiện các hiện tượng tăng vốn khống, thao túng giá, làm giá ngày càng tinh vi; một số cổ phiếu/nhóm cổ phiếu có biến động giá bất thường, không gắn với kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, gây tổn thất trực tiếp cho nhà đầu tư và ảnh hưởng tiêu cực đến tính ổn định và minh bạch của thị trường.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhưng tiềm ẩn rủi ro cao và mất cân đối, năm 2021, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp phát hành đạt hơn 637 nghìn tỷ đồng, tăng 36,4% so với năm 2020, trong đó phát hành riêng lẻ chiếm tới 95%. Tỷ lệ trái phiếu doanh nghiệp không có tài sản bảo đảm hoặc bảo đảm bằng tài sản rủi ro cao như cổ phiếu chưa niêm yết, dự án, tài sản hình thành trong tương lai còn lớn, ảnh hưởng tới sự an toàn của thị trường…

Dương Công Chiến

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850