Kinh tế Việt Nam một năm giữa thương chiến: Động lực tăng trưởng đang thay đổi

10:10 | 09/08/2019

CTCP Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) vừa có đánh giá về tình hình kinh tế Việt Nam sau một năm chiến tranh thương mại Mỹ - Trung diễn ra. Báo cáo chiến lược tháng 8 của VDSC nhấn mạnh mặc dù chịu ảnh hưởng từ thương chiến, tăng trưởng GDP của Việt Nam vẫn ổn định quanh mức 6,8%/năm trong các quý gần đây nhưng động lực tăng trưởng đã thay đổi.

Vào ngày 6/7/2018, Cục Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ bắt đầu thu những đồng thuế bổ sung đầu tiên áp lên gói hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc, trị giá 34 tỷ USD, ghi dấu mốc lịch sử cho cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung bắt đầu.

Gần đây nhất, Tổng thống Mỹ Donal Trump đã thông báo áp thuế bổ sung 10% lên 300 tỷ USD giá trị hàng hóa Trung Quốc, đưa tổng giá trị hàng hóa chịu thuế mới lên tới 550 tỷ USD, trong đó đợt đánh thuế mới lên 300 tỷ USD sẽ có hiệu lực từ 1/9/2019. Ở chiều ngược lại, Trung Quốc cũng đã áp thuế mới lên 60 tỷ USD giá trị hàng hóa nhập khẩu từ Mỹ.

Cả Mỹ và Trung Quốc đều là các đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam, trong đó nước ta nhập siêu lớn với Trung Quốc và xuất siêu cao tới Mỹ. Việt Nam hiển nhiên chịu nhiều ảnh hưởng từ vòng xoáy thuế quan kể trên.

Tuy nhiên về tổng thể, các số liệu kinh tế được công bố gần đây cho thấy không có nhiều xáo trộn. Và “Việt Nam vẫn đang là ngôi sao sáng trong khu vực với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối ổn định”, theo nhận định của VDSC, đưa ra trong một báo cáo mới công bố.

So với cùng kỳ năm trước, GDP theo quý có xu hướng ổn định, đạt quanh mức 6,8% cho quý I và 6,7% cho quý II/2019.

Nhưng, điểm đáng chú ý là so với giai đoạn 2015-2018, động lực tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay đang tạm thời chuyển hướng từ xuất khẩu sang đầu tư và tiêu dùng trong nước giai đoạn 2019-2020.

Trong đó, hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu hàng điện tử và dòng vốn FDI đăng ký mới có phần chững lại. Hoạt động sản xuất chế biến, chế tạo nhìn chung vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định quanh mức 9-10%/năm.

Đối với riêng hoạt động sản xuất điện thoại, điện tử tăng trưởng vẫn khá chậm chạp và có thể thấp hơn kỳ vọng trong quý III, dù là mùa sản xuất cao điểm. Nhập khẩu điện thoại và linh phụ kiện trong tháng 7 chỉ đạt 0,9 tỷ USD, thấp hơn so với mức 1,4 tỷ USD của cùng kỳ 2018.

Trong khi đó, các dự án lọc dầu, thép và ô tô trong nước hiện nay đang được coi là động lực chính cho tăng trưởng kinh tế.

Các chỉ số vĩ mô quan trọng (Nguồn: TTCK, NHNN, VDSC)

Đối với lạm phát, CPI bình quân 7 tháng chỉ tăng 2,6% so với cùng kỳ, khi Chính phủ đẩy mạnh kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, lạm phát trong 6 tháng cuối năm vẫn còn nhiều rủi ro, đặc biệt đến từ các mặt hàng thiết yếu như giá thịt lợn, giá xăng dầu và cả giá điện.

VDSC dự báo lạm phát bình quân năm 2019 chỉ tăng ở mức 3,8%, thấp hơn ngưỡng 4% do Quốc hội đề ra. Như vậy, so với 12 tháng trước đó, rủi ro lạm phát thấp hơn tương đối.

Tuy nhiên, bài toán hiện nay là phải gắn lạm phát chung với việc kiểm soát lạm phát cơ bản, khi lạm phát cơ bản liên tục tăng và đã đạt mức bình quân 7 tháng đầu năm nay tăng 2% so với cùng kỳ.

Trong phần cuối báo cáo, VDSC nhận định dưới sức ép của cuộc chiến tranh thương mại, mới đây Trung Quốc đã có động thái phá giá đồng nhân dân tệ (CNY) khiến tỷ giá của đồng tiền này so với USD đã rơi xuống mức thấp nhất trong 10 năm qua, hơn 7 CNY/USD.

Tuy nhiên, VDSC cho rằng với triển vọng giải ngân FDI khả quan và dự trữ ngoại hối gia tăng, Ngân hàng Nhà nước vẫn có đủ không gian và dư địa để kiểm soát tỷ giá theo mục tiêu.

Thanh Tùng

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.090 23.240 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.120 23.240 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.096 23.226 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.110 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.105 23.215 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.100 23.220 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.068 23.230 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.091 23.231 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
41.200
41.440
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
41.200
41.420
Vàng SJC 5c
41.200
41.440
Vàng nhẫn 9999
41.190
41.610
Vàng nữ trang 9999
40.640
41.440