Lãi suất giảm theo sức khỏe ngân hàng

13:04 | 09/08/2019

Vừa qua, sau tuyên bố giảm lãi suất của 4 NHTM quốc doanh, một số NHTMCP đã nhập cuộc. Nhưng theo nhận định của TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia ngân hàng, việc giảm lãi suất còn phụ thuộc vào khả năng, “sức khỏe” của các ngân hàng.

Điểm lại thông tin kinh tế ngày 8/8
Tăng trưởng sẽ tốt hơn
Ảnh minh họa

Ông đánh giá thế nào về làn sóng giảm lãi suất của các ngân hàng lần này?

Theo quan sát của tôi, hiện tại mới chỉ có những ngân hàng lớn giảm lãi suất đối với những lĩnh vực ưu tiên, còn trên toàn hệ thống vẫn chưa thấy dấu hiệu giảm nhiều. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng, đây cũng là điều dễ hiểu bởi, lãi suất giảm liên quan đến vấn đề chi phí vốn của các ngân hàng.

Hiện tại, những ngân hàng hạng trung, nhỏ họ vẫn phải huy động vốn với lãi suất cao nhất là các kỳ hạn dài. Khi mà chi phí vốn của họ còn cao thì khó có thể giảm lãi suất cho vay. Đặc biệt, đối với những ngân hàng có room tín dụng thấp, muốn duy trì lợi nhuận bắt buộc phải giữ lãi suất cho vay cao.

Chưa kể, thị trường tài chính thế giới, nhất là từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung diễn biến rất phức tạp sẽ tạo áp lực lên thị trường tiền tệ, tỷ giá. Các ngân hàng không muốn dòng tiền chảy ra khỏi ngân hàng thì phải giữ lãi suất tiền gửi ở mức cao để giữ chân khách hàng. Đây là những trở ngại khiến các ngân hàng này khó kéo lãi suất xuống.

Vậy thời gian tới liệu có cơ hội để các ngân hàng này giảm lãi suất không, thưa ông?

Các ngân hàng lớn vẫn luôn có lợi thế là có lượng khách hàng rất lớn nhất là từ tổ chức kinh tế nên lượng tiền gửi khá dồi dào, tạo điều kiện cho những ngân hàng này giảm chi phí đầu vào. Từ đó, tạo điều kiện để họ thực hiện giảm lãi suất cho DN, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Còn các ngân hàng hạng trung, nhỏ không có lợi thế này. Nhất là trong bối cảnh biến động tài chính thế giới đang phức tạp như hiện nay, theo tôi các ngân hàng càng phải thận trọng.

Vậy nên hãy để các ngân hàng họ điều chỉnh lãi suất theo khả năng tình hình tài chính của mình. Tất nhiên, NHNN vẫn còn có các công cụ khác để hỗ trợ tác động đến mặt bằng lãi suất như giảm lãi suất điều hành, tái cấp vốn, OMO… Nhưng quan điểm của tôi là không khuyến khích thay đổi lãi suất điều hành, vì nó không cần thiết. Bởi hiện tại mặt bằng lãi suất đang khá phù hợp với diễn biến thị trường hiện nay. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường tài chính biến động thế này chúng ta cần phải có bộ gối đệm dày dặn để chống đỡ, ứng phó với những rủi ro thách thức có thể xảy ra trong thời gian tới.

Theo ông, hoạt động kinh doanh ngân hàng trong những tháng tới có chịu nhiều sức ép từ diễn biến kinh tế thế giới không?

Chắc chắn là có. Nền kinh tế của Việt Nam là một  phần kinh tế thế giới. Mà kinh tế thế giới đang đi vào giai đoạn khủng hoảng nên mức độ rủi ro cao lên. Trong bối cảnh đấy, dĩ nhiên là chi phí vận hành, vốn… tất cả đều tăng lên, các DN Việt Nam sẽ đi vào khó khăn hơn trước. Nếu các DN gặp khó khăn thì ngân hàng không thể tránh khỏi tác động. Nhất là đối với các ngân hàng đang gặp khó về room tín dụng, hoặc một số ngân hàng thực hiện giảm lãi suất cũng sẽ bị ảnh hưởng đến kết quả lợi nhuận kinh doanh. Vì thế, các ngân hàng phải đa dạng hóa hoạt động kinh doanh nhất là thu từ dịch vụ để duy trì đảm bảo lợi nhuận như mục tiêu đặt ra.

Ông đánh giá hiệu quả từ thu dịch vụ của các ngân hàng hiện nay ra sao?

Tôi nghĩ rằng, thời gian qua, thu từ dịch vụ có sự cải thiện. Các ngân hàng khai thác nguồn thu đáng kể từ dịch vụ liên kết ngân hàng – bảo hiểm, bảo lãnh thanh toán, dịch vụ ngân hàng số… Nhưng nói chung vẫn chưa thể bù đắp được nhiều cho sự thiếu hụt từ thu tín dụng. Bởi việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng của người dân cũng còn ở mức hạn chế. Phần lớn các khách hàng đến với ngân hàng là để gửi tiền hoặc là vay ngân hàng là chính. Cũng mới chỉ có khoảng 30% dân số là có tài khoản ngân hàng, nên nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng rất hạn chế, dù các ngân hàng cũng đang cố gắng thiết kế nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích hiện đại.

Thời gian tới, để nguồn thu dịch vụ như mục tiêu Chiến lược Phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến 2030 phấn đấu đến cuối năm 2020 tăng tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng trong tổng thu nhập của các NHTM lên khoảng 12 - 13% và lên khoảng 16 - 17% giai đoạn 2021 - 2025, cần phải có sự đột phá về chính sách cả từ phía ngân hàng lẫn Chính phủ để gia tăng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cho người dân.

Xin cảm ơn ông!

Hà Thành thực hiện

Nguồn:

Tags: lãi suất

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.950 23.160 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.970 23.170 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.919 23.169 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.956 23.178 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.963 23.163 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.100
55.500
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.100
55.480
Vàng SJC 5c
55.100
55.500
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.300
Vàng nữ trang 9999
51.300
52.000