Lãi suất sẽ ổn định

09:33 | 01/03/2021

Theo nhận định của giới chuyên môn, sự biến động khá mạnh của lãi suất liên ngân hàng thời gian qua chỉ là phản ứng tức thời mang tính thời vụ.

lai suat se on dinh Lãi suất sẽ ổn định và có xu hướng giảm
lai suat se on dinh Tỷ giá, lãi suất sẽ ổn định

Sau thời gian nghỉ Tết lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đã quay đầu giảm liên tục ở tất cả các kỳ hạn. Đến ngày 24/2, lãi suất bình quân VND kỳ hạn qua đêm chỉ còn 0,40%; 1 tuần là 0,56%; 2 tuần là 0,72% và 1 tháng cũng chỉ còn 0,94%. Như vậy, so với thời điểm trước Tết, lãi suất bình quân của một số kỳ hạn giảm tới hơn 2%. Diễn biến trên thị trường liên ngân hàng cho thấy thanh khoản hệ thống đang dồi dào khi dòng tiền đang quay trở lại sau Tết nguyên đán.

Theo nhận định của giới chuyên môn, sự biến động khá mạnh của lãi suất liên ngân hàng thời gian qua chỉ là phản ứng tức thời mang tính thời vụ. Trước kỳ nghỉ lễ thường là thời điểm cao điểm về thanh khoản của các ngân hàng khiến lãi suất liên ngân hàng tăng, kỳ hạn qua đêm và 1 tuần giao dịch ở mức 2,60%; 2 tuần lãi suất là 2,38% và 1 tháng lãi suất là 2,30%. Nhưng sau khi kỳ nghỉ lễ nhu cầu này giảm mạnh, thanh khoản hệ thống ngân hàng đã quay lại trạng thái dồi dào, lãi suất quay đầu giảm.

lai suat se on dinh

Khi thanh khoản hệ thống có dấu hiệu dư thừa, NHNN bắt đầu hút ròng tiền trên thị trường mở. Theo báo cáo của Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), ngay sau kỳ nghỉ Tết, NHNN đã hút ròng 8.529 tỷ đồng trên thị trường mở, với kỳ hạn 14 ngày và lãi suất 2,5%. Trong tuần vừa qua, 26.629 tỷ đồng OMO đang lưu hành này cũng sẽ đáo hạn. Điều đó có nghĩa, toàn bộ lượng tiền đã bơm ra trước kỳ nghỉ Tết đã được nhà điều hành hút về.

Không chỉ trên thị trường 2, mà trên thị trường 1 lãi suất huy động của nhiều NHTM vẫn có xu hướng giảm. Khảo sát tại một số NHTM cho thấy, mặt bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm sau Tết Nguyên đán 2021 đã giảm nhẹ khoảng 0,5%/năm so với trước Tết. Hiện tại, lãi tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng cao nhất chưa tới 4%/năm, tình hình này diễn ra ở cả những nhà băng thường treo lãi suất ở mức cao. Cụ thể, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 1 tháng tại BIDV là 3,1%/năm; 3 tháng là 3,4%/năm. SCB, lãi suất kỳ hạn 3 tháng trở xuống cao nhất còn 3,85%/năm nếu trả lãi trước; kỳ hạn 6 tháng cao nhất là 5,7%/năm, lĩnh lãi cuối kỳ...

Nếu tăng trưởng tín dụng chưa cải thiện trong thời gian tới, thanh khoản hệ thống sẽ tiếp tục dư thừa. Theo Công ty Chứng khoán MB, mức lãi suất liên ngân hàng và hoạt động thị trường mở sẽ trở về trạng thái như ở cuối năm 2020. Báo cáo trước đó của Công ty chứng khoán SSI nhận định rằng đợt bùng phát dịch Covid-19 tại Việt Nam có thể khiến cầu tín dụng yếu đi, lãi suất sẽ vẫn duy trì ở vùng thấp hiện tại và có thể còn giảm thêm nếu dịch bệnh phức tạp hơn.

Không phủ nhận còn dư địa giảm, nhưng ông Phan Dũng Khánh – Giám đốc tư vấn đầu tư CTCK Maybank KimEng cho rằng, hiện tại lãi suất đang quá thấp có thể là đã chạm đáy, nên việc giảm thêm lãi suất đại trà là rất nhỏ. Tình huống giảm lãi suất chỉ có thể là đối với một số trường hợp đặc biệt. “Vì lãi suất tại Việt Nam không thể về 0% thậm chí là âm như nhiều nước trên thế giới, mà vẫn phải đảm bảo mức phù hợp để thu hút được tiền gửi dân cư, nếu giảm thêm các ngân hàng khó có thể huy động đủ vốn phục vụ cho kinh doanh khi tín dụng phục hồi”, ông Khánh lý giải.

Một chuyên gia ngân hàng khác cũng cho rằng, dư địa để giảm tiếp lãi suất là không nhiều. Vì lãi suất thị trường 2 đã tiệm cận mức 0%, với thanh khoản hệ thống tốt và lãi suất trái phiếu Chính phủ đã xuống mức rất thấp như kỳ hạn 5 năm còn 1,25%/năm... “Lãi suất phải đảm bảo hài hòa lợi ích của rất nhiều bên không chỉ người vay, người gửi tiền, mà liên quan đến cả điều hành vĩ mô, lạm phát. Nếu không, sẽ lại phải đối mặt với hệ lụy bong bóng lâu dài. Do đó, lãi suất thấp quá chưa chắc đã tốt”, vị này nhận định thêm về diễn biến lãi suất.

Có ba lý do theo VCBS lãi suất sẽ ổn định ở mặt bằng thấp. Thứ nhất, các NHTW được dự báo duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng trong khoảng thời gian dài. Thứ hai, định hướng xuyên suốt của NHNN là giảm lãi suất huy động, tạo tiền đề giảm lãi suất cho vay hỗ trợ tăng trưởng nền kinh tế. Cuối cùng, theo VCBS, xu hướng tăng của lãi suất huy động những năm trước chủ yếu đến từ việc huy động nhằm đáp ứng các chỉ số an toàn và cạnh tranh thu hút khách, cũng như có nguồn lực cho vay tín dụng. Dưới động thái điều hành của NHNN, cùng mục tiêu tín dụng tập trung vào chất lượng, năm 2021 xu hướng tăng lãi suất huy động khó có thể trở lại.

Nguyễn Vũ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.970 23.170 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.963 23.173 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.960 23.182 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.968 23.168 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.450
55.820
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.450
55.800
Vàng SJC 5c
55.450
55.820
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.300
Vàng nữ trang 9999
51.300
52.000