Lãi suất sẽ ổn định và có xu hướng giảm

11:00 | 03/01/2018

Mặc dù huy động vốn tăng chậm lại (tín dụng tương đương năm 2016), song thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn dồi dào. Giới chuyên môn dự đoán năm 2018 thị trường tài chính vẫn ổn định về lãi suất, thậm chí còn có xu hướng giảm

Tiếp tục điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với cân đối vĩ mô, diễn biến lạm phát
Một năm thành công của chính sách tiền tệ
Nhìn về những con số ấn tượng

Kết thúc năm 2017, thị trường tài chính vẫn còn một số tồn tại, chẳng hạn, nợ xấu chưa giải quyết triệt để, mặt bằng lãi suất cho vay chưa giảm như mong đợi; tín dụng bất động sản, tiêu dùng còn tiềm ẩn rủi ro cao…

Thời gian qua các NHTM luôn chủ động thực thi các biện pháp tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động

Tuy nhiên, nếu đi vào chi tiết những điểm nêu trên, người ta lại có thể nhận thấy có rất nhiều gam màu sáng ở thị trường tài chính. Thậm chí, bức tranh thị trường 2018 thể hiện rõ sự lạc quan ở nhiều yếu tố xuất phát từ các điều kiện của nền kinh tế hiện nay như: tăng trưởng kinh tế hàng năm tốt, nợ xấu năm sau giảm nhanh so với năm trước, lãi suất ổn định theo xu hướng giảm…

Một chuyên gia tài chính khẳng định, thanh khoản của hệ thống ngân hàng ổn định, biểu hiện là lãi suất liên ngân hàng đã liên tục giảm (bình quân giảm khoảng 0,2% so với tháng trước) và tiếp tục được duy trì ở mức thấp. Từ đó, việc duy trì lãi suất ổn định ở mức thấp này tiếp tục là công cụ hỗ trợ tăng trưởng tín dụng trong năm 2018.

Đồng thời, so với trước đây, hiện các NH đã kiểm soát chặt chẽ hơn rủi ro trong cho vay bất động sản. Tình trạng lệch pha cung cầu đang có dấu hiện giảm dần. Các ngân hàng cũng khuyến khích cung thêm vốn cho cá nhân hay DN trong năm 2018. Nhưng tất cả những điều này sẽ không còn tạo ra vấn đề đáng lo ngại nữa vì NH đã kiểm soát được nợ xấu.

Mặc dù tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn so với tốc độ tăng trưởng huy động vốn, thế nhưng điểm tích cực đáng chú ý là dư nợ cho vay trung dài hạn đã tăng lên chiếm 53% tổng dư nợ. Ở câu chuyện này, ông Trương Văn Phước, Quyền Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia chia sẻ thêm, lãi suất cho vay đã giảm và giảm nhanh hơn lãi suất huy động. Theo ông Phước, sở dĩ lãi suất huy động không giảm nhiều là vì chúng ta đang có một nhu cầu vốn lớn, nhất là khi thị trường bất động sản đã phục hồi hơn, chứng khoán tăng trưởng ngoạn mục. Lẽ ra tiền gửi vào tiết kiệm thì nay họ đầu tư vào bất động sản, chứng khoán…

Đồng quan điểm, chuyên gia kinh tế Trần Du Lịch nhận định, mặc dù huy động vốn tăng chậm lại (tín dụng tương đương năm 2016), song thanh khoản hệ thống ngân hàng vẫn dồi dào.Trong đó, dòng vốn tín dụng hiệu quả và chất lượng hơn khi được phân bổ tập trung vào khu vực sản xuất và lĩnh vực ưu tiên.

Với cái nhìn tổng quan về lãi suất trong năm mới, TS Bùi Quang Tín (Đại học Ngân hàng TP.HCM) cho rằng, nền kinh tế 2018 sẽ tăng trưởng ổn định, bởi tiết kiệm của người dân đang ở mức cao. Cũng theo ông Tín, điểm sáng nhất trong bức tranh kinh tế năm 2017 là lãi suất đã được kiểm soát và duy trì ở mức hợp lý.

Bối cảnh kinh tế toàn cầu đã có sự phục hồi, hầu như không nhìn thấy dấu hiệu của sự khủng hoảng ở các đầu tàu kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và khu vực châu Âu. Tỷ giá sẽ được giữ ở mức ổn định từ nay đến cuối năm nhờ lượng dự trữ ngoại hối cao kỷ lục đến hơn 51,5 tỷ USD, kiều hối có khả năng đạt trên 10 tỷ USD, nguồn vốn FDI đang tăng trưởng mạnh.... Chính các yếu tố này sẽ giúp duy trì mức lãi suất hợp lý từ nay đến cuối năm cũng như bước sang năm 2018.

Mặt khác, nếu căn cứ diễn biến tích cực của hoạt động ngân hàng, từ tháng 7/2017, NHNN đã điều chỉnh giảm 0,25%/năm các mức lãi suất điều hành, điều chỉnh giảm 0,5% lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ giảm chi phí vay vốn cho các DN.

Theo ông Đỗ Minh Toàn, Tổng giám đốc ACB, thời gian qua các NHTM luôn chủ động thực thi các biện pháp tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động để có cơ sở giảm lãi suất cho vay. Kết quả, các NHTM đã thực hiện giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên.Còn lãi suất cho vay trung dài hạn ở lĩnh vực ưu tiên đã thấp hơn khoảng 0,5-1%/năm, rơi vào khoảng 8%/năm.

Nhìn chung, mặt bằng lãi suất cho vay với lĩnh vực ưu tiên tại các NH ở mức 6,5%/năm (ngắn hạn) và 8-10,5%/năm(trung dài hạn); đối với sản xuất kinh doanh thông thường lãi suất khoảng 6,8-9%/năm đối với ngắn hạn, lãi suất khoảng 9,3-11%/năm đối với trung dài hạn. Ông Nguyễn Xuân Thành, Đại học Fullbright Việt Nam, lãi suất ổn định và có khả năng giảm mức độ nhỏ trong năm mới.

Quỳnh Vũ

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,80
-
4,90
7,40
-
8,00
8,10
ACB
-
0,20
0,20
0,20
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
4,10
4,30
4,40
5,40
5,70
6,00
6,40
Techcombank
0,03
-
-
-
3,25
3,45
3,45
5,25
5,25
5,65
5,75
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
4,50
4,50
4,80
5,10
5,10
5,60
5,60
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,80
3,80
3,80
6,60
6,70
7,20
7,50
Agribank
0,20
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,30
6,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.720 24.030 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.750 24.030 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.720 24.020 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.720 24.030 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.740 24.000 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.700 24.050 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.742 24.037 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.738 24.030 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.730 24.100 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.770 24.040 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
65.400
66.420
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
65.400
66.400
Vàng SJC 5c
65.400
66.420
Vàng nhẫn 9999
52.500
53.500
Vàng nữ trang 9999
52.300
53.100