Lãi suất trái phiếu giảm sâu

08:59 | 25/11/2019

Đi cùng với sự ổn định của nền kinh tế, lợi suất trái phiếu chính phủ đã giảm liên tục từ đầu năm đến nay. Đặc biệt, sự kiện lợi suất giảm mạnh trong tháng 10 là chưa có tiền lệ (giảm khoảng 0,5% ở tất cả các kỳ hạn) khiến cho lợi suất trái phiếu Việt Nam đang ở mức thấp kỷ lục. 

Bộ Tài chính lưu ý các nhà đầu tư khi tham gia thị trường trái phiếu
Không nên đầu tư trái phiếu doanh nghiệp chỉ vì lãi suất
Ảnh minh họa

Hiện lợi suất trái phiếu kỳ hạn 5 năm đang dao động ở mức 2,47%; 10 năm là 3,71%. Các mức lợi suất này đều thấp hơn nhiều so với tỷ lệ lạm phát trung bình các năm qua và điều này phản ánh một điều rằng: các nhà đầu tư đang đánh giá khá cao sức khỏe của hệ thống tài chính cũng như triển vọng ổn định của nền kinh tế trong 5-10 năm tới.

Theo Công ty chứng khoán HSC, kết quả giảm sâu của lợi suất trái phiếu chính phủ đến từ thanh khoản dư thừa trong hệ thống ngân hàng khi tốc độ tăng trưởng tín dụng năm nay dự báo khoảng 14%. Theo công ty này, những chuyển biến mang tính hệ thống đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn thanh khoản dồi dào là ngân sách nhà nước cải thiện, lạm phát thấp, nợ công giảm và tỷ trọng của khu vực tư nhân trong tổng đầu tư (ước tính đạt 22,5% GDP trong 2019). “Tất cả những chuyển biến đó giúp cho nền kinh tế tăng trưởng lành mạnh”, HSC nhận định.

Xét về khía cạnh tài chính, lợi suất trái phiếu giảm mạnh là tín hiệu vui cho thị trường chứng khoán hay bất động sản khi nền kinh tế tích lũy một lượng vốn dư dả. Nhưng trước mắt, tác động đó có thể chưa lan tỏa sớm đến cổ phiếu (mặc dù VN-Index cũng tăng hơn 10% từ đầu năm đến nay). Đó có thể là do tâm lý của nhà đầu tư vẫn còn lo ngại trước viễn cảnh chưa chắc chắn của Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung, các điểm nghẽn về pháp lý chưa được giải quyết trên thị trường bất động sản...

Nhưng xét về trung và dài hạn, hệ thống tài chính mạnh khỏe hơn dần dần sẽ tạo nền tảng bền vững cho thị trường cổ phiếu và các lĩnh vực khác phát triển. “Lợi suất trái phiếu sẽ duy trì ở mức thấp, ít nhất cho đến nửa đầu năm 2021. VN-Index sẽ kéo dài xu hướng tích cực vì thanh khoản trong hệ thống được duy trì ổn định và niềm tin cải thiện”, báo cáo của HSC nhận định.

Đã qua rồi cái thời “ăn xổi ở thì”, sự tăng trưởng ổn định mới là điều được quan tâm nhất hiện nay. Đặc biệt, NHNN vừa ban hành Thông tư 22/2019/TT-NHNN trong đó quy định lộ trình giảm dần tỷ lệ tối đa của sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ đầu năm sau là 40%, rồi giảm dần xuống 30% kể từ 1/10/2022. Thực tế lộ trình giảm tỷ trọng tín dụng trung dài hạn, nhất là tín dụng bất động sản đã được thông báo từ lâu để quay trở lại tỷ trọng bình thường trước đây. Các doanh nghiệp cũng đã chuẩn bị sẵn phương án như gia tăng phát hành trái phiếu hay IPO cổ phiếu.

Mặt khác, theo Công ty chứng khoán Bảo Việt, Thông tư 22 quy định lộ trình giảm vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ mức 40% hiện nay xuống 30% sẽ trải dài trong 3 năm, tức dài hơn so với kỳ vọng ban đầu của thị trường là 1-2 năm. “Việc kéo giãn thời gian dài hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thực thi mục tiêu giảm mặt bằng lãi suất, đặc biệt là lãi suất huy động các kỳ hạn trung và dài tại các ngân hàng nhỏ vốn thường gặp khó khăn về thanh khoản”, chứng khoán Bảo Việt nhận định.

Có thể thấy, định hướng chung của NHNN vẫn là hạn chế cho vay các lĩnh vực rủi ro, nâng cao an toàn chung của hệ thống chứ không vì xu hướng tăng trưởng chậm lại của kinh tế mà phát triển tín dụng ồ ạt cho tất cả các lĩnh vực. Xét về lâu dài, sự ổn định của hệ thống tài chính sẽ quay trở lại hỗ trợ tốt cho bản thân nền kinh tế nói chung và VN-Index nói riêng.

Nam Minh

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.350 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.175 23.355 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.145 23.335 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.160 23.330 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.155 23..365 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.150 23.350 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.180 23.340 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.190 23.330 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.380
48.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.380
48.750
Vàng SJC 5c
48.380
48.770
Vàng nhẫn 9999
47.730
48.350
Vàng nữ trang 9999
47.250
48.050