Lạm phát cơ bản của Úc lên mức cao 6 năm trong quý III

09:29 | 27/10/2021

Lạm phát cơ bản của Úc đã tăng lên mức cao nhất kể từ năm 2015 trong quý III năm nay, khi giá cả tăng trên diện rộng. Đây là một cú sốc nữa và đang khiến thị trường nâng dự đoán về khả năng ngân hàng trung ương nước này sẽ tăng lãi suất.

Dữ liệu từ Cục Thống kê Úc công bố sáng nay (27/10) cho thấy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã tăng 0,8% trong quý III và 3,0% kể từ đầu năm, giống như dự đoán.

Tuy nhiên, lạm phát lõi bình quân - thước đo được Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) sử dụng trong điều hành - đã tăng 0,7% trong quý, cao hơn mức dự báo 0,5%.

Đáng chú ý, tốc độ tăng lạm phát lõi trong năm đã lên 2,1%, cao hơn mức dự kiến ​​1,8% và đưa nó trở lại phạm vi mục tiêu 2 - 3% của Ngân hàng Trung ương Úc (RBA), lần đầu tiên sau sáu năm.

lam phat co ban cua uc len muc cao 6 nam trong quy iii

Ngân hàng trung ương đã dự báo lạm phát cơ bản sẽ không đạt 2% cho đến giữa năm 2023 và do đó, tỷ giá tiền mặt sẽ duy trì ở mức thấp kỷ lục 0,1% cho đến năm 2024.

Dữ liệu chỉ khuyến khích các thị trường vốn đã nghĩ rằng RBA đứng sau đường cong về lạm phát và sẽ phải thắt chặt sớm hơn nhiều, có lẽ vào tháng 7 năm sau.

Ngân hàng Trung ương Úc từng dự báo lạm phát cơ bản chỉ có thể đạt mức tăng 2% vào giữa năm 2023, theo đó, lãi suất sẽ được giữ ở mức thấp kỷ lục 0,1% cho tới 2024.

Vì vậy, dữ liệu vừa công bố khiến các thị trường tin rằng RBA đang không kiểm soát được đường cong lạm phát và sẽ phải thắt chặt chính sách sớm hơn, có thể là bắt đầu từ tháng Bảy năm tới.

Các nhà đầu tư đã phản ứng bằng cách bán phá giá trái phiếu có kỳ hạn ngắn, với kỳ hạn ba năm bị đẩy mất 16 điểm phần nghìn xuống 98,870 điểm, mức thấp nhất kể từ tháng 6/2019.

Tuy nhiên, lợi tức trái phiếu tháng 4/2024 đã tăng lên 0,21%, một thách thức trực tiếp đối với cam kết của RBA là giữ cho nó ở gần mức lãi suất chính sách 0,1%.

Đô la Úc đã tăng lên 0,7535 USD và có cơ hội để lấy lại mức cao nhất trong bốn tháng gần đây là 0,7546 USD.

“Sự gia tăng mạnh mẽ của lạm phát cơ bản sẽ tạo áp lực lên RBA, khiến họ phải đẩy mạnh việc giảm kích thích tiền tệ trong những tháng tới”, Ben Udy, một nhà kinh tế tại Capital Economics, bình luận.

Tuy nhiên, ông cho rằng tăng trưởng tiền lương cũng sẽ phải vượt lên trên 3% để các nhà hoạch định chính sách có thể tính đến một đợt tăng lãi suất thực.

Thống đốc RBA Philip Lowe đã nhiều lần lập luận lạm phát ở Úc có sức ỳ vì tăng trưởng lương thấp vẫn đang hiện hữu.

Tiền lương tại Úc chỉ tăng 1,7% trong năm tính đến tháng 6, thấp hơn nhiều so với mức tăng 3% mà RBA tin rằng nó là cần thiết để giữ lạm phát bền vững trong biên độ 2 - 3%.

Tuy nhiên, rủi ro đang nghiêng về phía tăng lạm phát.

Giá xăng tiếp tục leo lên mức cao kỷ lục, trong khi giá thuê đang tăng sau nhiều năm chững lại. Chi phí y tế và bảo hiểm đã tăng cao do đền bù vì đại dịch và thiên tai gia tăng, trong khi các phương tiện truyền thông tràn ngập cảnh báo về tình đình lạm của nền kinh tế trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu bị tắc nghẽn.

Giá nhà tăng cao và người tiêu dùng lo lắng về áp lực chi phí sinh hoạt đang thúc đẩy kỳ vọng giá nhà sẽ tăng thêm.

Một cuộc khảo sát của ANZ đo lường kỳ vọng lạm phát cho kết quả cao nhất trong sáu năm là 5% vào tuần trước, nếu nó vẫn tiếp tục duy trì thì có thể bắt đầu tác động đến nền kinh tế.

"Bằng chứng là ở những nơi khác trên thế giới, kỳ vọng lạm phát tiêu dùng gia tăng có thể làm giảm niềm tin của các hộ gia đình, khiến họ miễn cưỡng chi tiêu trong thời gian tới, trì hoãn các khoản mua sắm lớn", Ryan Felsman, chuyên gia kinh tế cấp cao của công ty quản lý quỹ CommSec, nói.

M.Hồng

Nguồn:

Tags: lạm phát

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.605 22.835 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.635 22.835 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.615 22.835 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.610 22.820 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.630 22.810 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.630 22.810 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.633 22.848 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.600 22.830 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.630 22.810 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.650 22.810 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
59.950
60.670
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
59.950
60.650
Vàng SJC 5c
59.950
60.670
Vàng nhẫn 9999
51.300
52.000
Vàng nữ trang 9999
51.000
51.700