Lạm phát tại Eurozone lập kỷ lục mới

10:21 | 02/07/2022

Lạm phát khu vực đồng tiền chung châu Âu đã tăng lên mức kỷ lục mới, vượt qua kỳ vọng và thúc đẩy các lời kêu gọi tăng lãi suất tích cực đang được các ngân hàng trung ương trên toàn thế giới triển khai.

lam phat tai eurozone lap ky luc moi ECB lo ngại rủi ro đe dọa ổn định tài chính của Eurozone
lam phat tai eurozone lap ky luc moi ECB hạ dự báo tăng trưởng và duy trì lãi suất thấp kỷ lục tại Eurozone

Một lần nữa được thúc đẩy bởi chi phí thực phẩm và năng lượng tăng cao, chỉ số giá tiêu dùng của khu vực Eurozone đã tăng 8,6% so với cùng kỳ trong tháng Sáu, tăng từ 8,1% trong tháng Năm và cao hơn mức dự báo 8,5% được Bloomberg khảo sát trước đó.

lam phat tai eurozone lap ky luc moi

Dữ liệu mới được công bố phản ánh sự gia tăng sức ép đối với các hộ gia đình và doanh nghiệp trong khối tiền tệ 19 thành viên, nơi Pháp, Ý và Tây Ban Nha đã báo cáo mức lạm phát cao nhất mọi thời đại mới trong tuần này.

Đức, nền kinh tế số 1 của khu vực, chỉ chứng kiến ​​sự suy thoái do việc cắt giảm thuế nhiên liệu và giảm giá phương tiện giao thông công cộng mang tính tạm thời. Ở khu vực Baltic, giá cả đã tăng vượt qua 20%.

Các Chính phủ đã cân nhắc khoản hỗ trợ với hàng tỷ euro, nhưng khả năng trợ giúp bị hạn chế sau khi họ đã chi những khoản tiền khổng lồ trong thời kỳ đại dịch. Trong khi người tiêu dùng vật lộn với chi phí sinh hoạt tăng cao, thì các nhà bán lẻ như Zalando SE và Hennes & Mauritz AB cũng đang gặp khó; Doanh số bán hàng tại các nhà sản xuất ô tô như Volkswagen AG đã giảm sâu trong nhiều tháng.

Trong khi chuẩn bị cho đợt tăng lãi suất đầu tiên trong hơn một thập kỷ, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã phải đối mặt với những lời chỉ trích vì để lạm phát vượt xa mục tiêu 2% khi các ngân hàng trung ương khác như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã có các đợt tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản.

ECB đổ lỗi do chi phí năng lượng tăng đột biến sau khi Nga tấn công Ukraine. Trong khi đà tăng giá không ngừng tăng lên, một thước đo lạm phát cơ bản, không bao gồm năng lượng và thực phẩm, đã giảm xuống 3,7% trong tháng Sáu.

Lợi suất trái phiếu kỳ hạn hai năm của Đức - vốn nhạy cảm với những thay đổi của lãi suất - đã giảm hơn ba điểm cơ bản ở mức 0,62%, trước đó đã tăng lên 0,69% trong khi thị trường tiền tệ cắt giảm mức cược về việc thắt chặt.

Với những dấu hiệu cho thấy kỳ vọng về giá trong tương lai sẽ tăng cao, ECB có kế hoạch tăng lãi suất huy động thêm 0,25% vào tháng Bảy. Giám đốc ngân hàng trung ương Bỉ, Pierre Wunsch trong tuần này đã gọi động thái đó là một "thỏa thuận đã xong", mặc dù các đồng nghiệp trong Hội đồng thống đốc (Latvia và Lithuania) kêu gọi hành động mạnh mẽ hơn.

Cuộc họp tiếp theo của ECB diễn ra vào tháng Chín, với dữ liệu của ngày thứ Sáu, khả năng cao mức tăng lãi suất nửa điểm phần trăm sẽ được thực hiện. Điều này sẽ đưa lãi suất tiền gửi hiện đang ở mức -0,5% trở lại trên 0% lần đầu tiên sau tám năm.

Ngoài ra, ECB còn lên kế hoạch cho một chu kỳ tăng “bền vững”, mặc dù các xu hướng kinh tế đang mạnh lên. Một cuộc khảo sát của S&P Global được công bố hôm thứ Sáu cho thấy, các nhà sản xuất đang báo cáo về sự suy giảm nhu cầu nhanh chóng, trong khi lo ngại về tình trạng mất điện vào mùa đông nếu Nga hạn chế nguồn cung cấp khí đốt tự nhiên đang làm gia tăng triển vọng suy thoái.

Fabio Panetta - một trong những quan chức ôn hòa nhất của ECB - cho biết: “Sự tăng giá này không phản ánh nhu cầu dư thừa trong khu vực đồng euro. “Tiêu dùng và đầu tư vẫn ở dưới mức trước đại dịch và thậm chí còn xa hơn so với xu hướng trước đại dịch. Với việc tiền lương tăng với tốc độ vừa phải, thu nhập thực tế đã bị ảnh hưởng nặng nề do giá nhập khẩu tăng mạnh”.

Đại Hùng

Nguồn: Bloomberg

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 24.320 24.630 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 24.350 24.630 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 24.320 24.640 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 24.380 24.680 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 24.340 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 24.350 24.800 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 24.372 24.637 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 24.327 24.635 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 24.380 24.800 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.410 24.670 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.350
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.350
67.150
Vàng SJC 5c
66.350
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.300
Vàng nữ trang 9999
53.100
53.900