Lạm phát tăng vọt, Thổ Nhĩ Kỳ một lần nữa đối diện khủng hoảng tiền tệ

09:14 | 09/07/2020

Đồng lira của Thổ Nhĩ Kỳ trong tuần này một lần nữa giảm xuống mức thấp kỷ lục sau thời điểm chạm đáy gần nhất vào đầu tháng 5, với lạm phát trong tháng 6 được báo cáo tăng 12,6%, con số vượt xa so với dự báo của các nhà kinh tế. 

lam phat tang vot tho nhi ky mot lan nua doi dien khung hoang tien te

Với việc thu hẹp dự trữ ngoại tệ nhanh chóng để giữ giá đồng nội tệ, lạm phát và mất giá tiền tệ đang không cùng tương quan, theo các nhà phân tích.

Đồng lira vẫn được định giá cao hơn tương đối so với giá trị thật tại thời điểm này, mặc dù đã rất yếu, Can Selcuki, giám đốc điều hành Công ty Nghiên cứu kinh tế Istanbul, nói.

Trước tháng 6, lạm phát tháng 5 đã tăng 11,4% và là mức cao nhất kể từ tháng 8/2019, còn các tháng trước nữa duy trì mức tăng dần từ 8,6% của tháng 10 năm ngoái.

"Thêm vào đó, nợ nước ngoài ngày càng tăng, có vẻ như đồng lira sẽ còn mất giá trong những tháng tới nếu không có sự can thiệp của chính sách tài khóa", Selcuki nói.

Các nhà kinh tế đồng tình rãi rằng lạm phát gia tăng đòi hỏi lãi suất phải cao hơn. Tuy nhiên, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan không cùng quan điểm, ông tin rằng tăng lãi suất sẽ dẫn tới lạm phát. Ông ủng hộ việc cắt giảm lãi suất để thúc đẩy tăng trưởng và chi tiêu, đặc biệt là sau khi đất nước 82 triệu dân này bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19 - một trong những nguyên nhân làm giảm du lịch trong năm nay, một ngành cung cấp việc làm và ngoại tệ lớn.

Ngân hàng trung ương Thổ Nhĩ Kỳ - cơ quan mà các nhà đầu tư tin rằng chịu ảnh hưởng lớn của Tổng thống Erdogan - đã giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 8,25% tại lần công bố chính sách tiền tệ gần nhất hồi cuối tháng 6, sau 9 lần giảm liên tiếp từ mức cao nhất 24% trong nửa đầu của năm 2019.

Selcuki cho biết có khả năng sẽ xảy ra một cuộc khủng hoảng tiền tệ nữa ở Thổ Nhĩ Kỳ. "Thật không may, có những dấu hiệu rõ ràng về khả năng dẫn tới một kết cục như vậy", ông nói.

Đồng lira (TRY) đạt mức thấp lịch sử vào đầu tháng 5, ở mức 7.269 lira đổi một đô la. Bạc xanh đã tăng 15,36% so với lira trong khoảng thời gian một năm trở lại đây.

Một báo cáo từ Moody công bố hồi đầu tháng này đề cập đến mối quan ngại hiện nay trên thị trường đối với chính sách kinh tế của Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời dự báo về khả năng suy giảm kinh tế 5% trong năm 2020, với suy thoái mạnh trong nửa đầu năm.

Báo cáo cũng dự báo sự phục hồi sau đó sẽ tương đối chậm, với tăng trưởng của Thổ Nhĩ Kỳ chỉ đạt khoảng 3,5% trong năm 2021, do hệ quả từ các vấn đề cơ cấu kinh tế.

Quỹ tiền tệ quốc tế cũng dự báo nền kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ sẽ thu hẹp 5% trong năm nay, sau khi mở rộng chỉ 0,9% vào năm ngoái.

Việc can thiệp ngoại tệ của ngân hàng trung ương để giữ giá đồng lira đã làm cạn kiệt nguồn dự trữ của đất nước: tổng dự trữ, bao gồm vàng và trừ đi các giao dịch hoán đổi, đã giảm xuống còn 33 tỷ USD vào cuối tháng 6, từ mức 87 tỷ USD cuối năm 2019, theo Fitch Ratings.

Rủi ro tài chính đối ngoại vẫn đang là điểm yếu nhất trong đánh giá tín nhiệm đối với Thổ Nhĩ Kỳ, Fitch Ratings cho biết trong một báo cáo hồi tuần trước. Sự sụt giảm nhanh chóng dự trữ ngoại hối trong giai đoạn từ cuối tháng 2 đến nay, cùng với chính sách tiền tệ tín nhiệm yếu và lãi suất thực âm, đã làm tăng rủi ro áp lực ngoại hối đối với Thổ Nhĩ Kỳ.

Tuy nhiên, cơ quan này cho rằng các can thiệp nói trên sẽ sớm kết thúc. "Do dự trữ đã ở mức thấp, chúng tôi dự đoán việc can thiệp ngoại hối lớn hơn của ngân hàng trung ương sẽ không còn và chúng tôi tin rằng chu kỳ nới lỏng lãi suất chính sách đã gần kết thúc", các nhà phân tích của Fitch Ratings viết trong báo cáo, đồng thời bổ sung rằng chỉ có cải cách hoạt động phát hành công cụ nợ của chính phủ mới cỏ thể đêm lại sự ổn định.

lam phat tang vot tho nhi ky mot lan nua doi dien khung hoang tien te
Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan

Nhưng với một vị tổng thống khó đoán, người thường xuyên lên tiếng chỉ trích lãi suất cao, Fitch Ratings cảnh báo, "chúng tôi vẫn thấy có khả năng diễn ra các lần cắt giảm lãi suất tiếp theo, điều này góp phần làm gia tăng áp lực ngoại hối, mặc dù ủy ban chính sách tiền tệ đã giữ lãi suất ở 8,25% vào tuần trước".

"Tôi nghĩ rằng chúng ta vẫn còn trong giai đoạn khó khăn ít nhất một thời gian nữa", Selcuki nói. Nhu cầu chậm cải thiện và giá năng lượng rất thấp trong bối cảnh cuộc khủng hoảng Covid-19 đã giúp kiểm soát lạm phát tại Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng dường như mọi thứ như vậy đã kết thúc, ông nhận xét.

"Có lẽ chúng ta đang ở giai đoạn khởi đầu của xu hướng lạm phát sẽ tiếp tục tăng cao hơn", ông nói. "Tôi không đồng tình với quan điểm rằng nền kinh tế của chúng ta đã chạm đáy".

M.Hồng

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.550 27.904 29.537 30.0771 211,03 221,12
BIDV 23.085 23.265 26.826 27.903 29.933 30.573 213,08 221,70
VietinBank 23.080 23.270 26.938 27.903 29.933 30.573 215,99 224,49
Agribank 23.085 23.255 26.898 27.489 29.880 30.525 214,93 220,06
Eximbank 23.080 23.250 26.980 27,448 30.008 30.528 216,33 220,08
ACB 23.080 23.250 26.992 27.464 30.141 30.546 216,32 220,32
Sacombank 23.074 23..284 27.056 27.615 30.124 30.634 216,13 222,45
Techcombank 23.070 23.270 26.726 27.429 29.668 30.796 214,67 223,83
LienVietPostBank 23.100 23.260 27,201 27.702 30.161 30.621 219,28 223,32
DongA Bank 23.110 23.240 26.960 27.440 29.970 30.500 212,40 219,20
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.600
62.220
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.600
62.200
Vàng SJC 5c
60.600
62.220
Vàng nhẫn 9999
56.250
57.550
Vàng nữ trang 9999
55.850
57.250