Làn sóng tăng lãi suất mạnh hơn trong tháng 11

07:55 | 07/12/2022

Tốc độ và quy mô tăng lãi suất mà các NHTW trên thế giới thực hiện trong tháng 11, bao gồm cả các nền kinh tế đang phát triển, đã tăng trở lại khi các nhà hoạch định chính sách trên toàn cầu đang nỗ lực kéo giảm lạm phát đang ở mức cao kỷ lục.

Theo đó hầu hết các NHTW lớn trên thế giới đã tăng lãi suất tổng cộng 350 điểm cơ bản vào tháng trước. Ngoài Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) còn có NHTW Anh, NHTW Na Uy (Norges Bank), NHTW Thụy Điển (Riskbank), Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA), Ngân hàng Dự trữ New Zealand (RBNZ).

Trong đó đáng chú ý Fed đã thực hiện lần tăng lãi suất 75 điểm thứ tư liên tiếp trong tháng vừa qua, nâng mức tăng lãi suất tổng cộng từ đầu năm của cơ quan này lên tới 375 điểm cơ bản. NHTW Anh cũng tăng lãi suất 75 điểm trong tháng 11, đưa lãi suất đồng bảng lên 3%, mức cao nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

lan song tang lai suat manh hon trong thang 11

Trong khi đó mặc dù NHTW châu Âu (ECB), NHTW Canada (BoC), Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ và NHTW Nhật Bản (BoJ) không tổ chức các cuộc họp ấn định lãi suất vào tháng 11, nhưng ngoại trừ BoJ hiện vẫn đang kiên định với chính sách nới lỏng để hỗ trợ nền kinh tế, đa phần các NHTW còn lại đều phát đi tín hiệu sẽ còn tiếp tục thắt chặt tiền tệ.

Chẳng hạn như ECB. Trong bài trả lời phỏng vấn hồi đầu tháng 11, Chủ tịch ECB Christine Lagarde cho biết cơ quan này sẽ tiếp tục tăng lãi suất để chống lạm phát, ngay cả khi nguy cơ suy thoái tại khu vực gia tăng. Trước đó ECB đã thực hiện 3 lần tăng lãi suất với mức tăng tổng cộng là 200 điểm cơ bản. Giới chuyên gia dự báo ECB sẽ tiếp tục tăng lãi suất chính sách, đưa lãi suất tiền gửi lên gần 3% vào năm 2023.

Tính chung từ đầu năm đến nay, các NHTW của 10 nền kinh tế phát triển (G10) đã tăng lãi suất tổng cộng tới 2.400 điểm cơ bản.

Không chỉ tại các nền kinh tế phát triển mà xu hướng tăng lãi suất cũng diễn ra tương tự tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển. Theo đó 8 trong số 18 NHTW tại các nền kinh tế này đã tăng lãi suất tổng cộng 400 điểm cơ bản trong tháng 11, cao hơn so với mức tăng 325 điểm cơ bản trong tháng 10, nhưng vẫn thấp hơn so với mức hơn 800 điểm cơ bản trong cả tháng 6 và tháng 7.

Indonesia, Hàn Quốc, Mexico, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Israel và Nam Phi đều tăng lãi suất trong tháng 11, cho thấy làn sóng thắt chặt chính sách chuyển hướng sang châu Á. Tính chung các NHTW tại các thị trường mới nổi đã tăng lãi suất tổng cộng 7.165 điểm cơ bản từ đầu năm đến nay, cao hơn gấp đôi so với mức 2.745 điểm cơ bản cho cả năm 2021.

Xu hướng tăng lãi suất được dự báo sẽ còn tiếp diễn sang năm 2023. “Lãi suất sẽ tiếp tục tăng cho đến năm 2023. Quyết tâm giảm lạm phát của các ngân hàng trung ương cho thấy lãi suất chính sách vẫn cần phải tăng cao hơn nữa”, Alexandra Dimitrijvic tại S&P Global Ratings cho biết.

Tuy nhiên theo giới chuyên môn, tốc độ tăng lãi suất sẽ chậm lại đáng kể do áp lực lạm phát đã có hấu hiệu dịu lại, trong khi kinh tế toàn cầu đang có xu hướng suy giảm tăng trưởng, thậm chí nhiều nền kinh tế còn có thể rơi vào suy thoái.

Trên thực tế hiện đã có một số dấu hiệu cho thấy lạm phát có thể đang chậm lại ở Mỹ và điều đó đã làm dấy lên kỳ vọng Fed sẽ giảm tốc độ tăng lãi suất xuống còn 50 điểm tại cuộc họp chính sách diễn ra ngày 13 và 14 tháng 12. Chủ tịch Fed Jerome Powell mới đây cũng cho biết, Fed có thể giảm tốc độ tăng lãi suất "ngay sau tháng 12".

Sự chậm lại tốc độ thắt chặt của Fed cũng làm dịu lại phần nào áp lực tăng lãi suất của nhiều NHTW khác, đặc biệt là tại các nền kinh tế mới nổi. Bởi một trong những lý do mà nhiều NHTW tăng lãi suất trong thời gian vừa qua cũng nhằm bảo vệ đồng nội tệ trước sự mạnh lên của đồng USD do sự “hậu thuẫn” từ động thái thắt chặt của Fed.

“Ngoại trừ một số quốc gia, chúng ta đã qua giai đoạn khốc liệt nhất của chu kỳ tăng lãi suất”, Nafez Zouk tại Aviva Investors cho biết.

Hoàng Nguyên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,00
6,10
7,40
7,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,90
4,90
5,40
6,00
6,00
7,40
7,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
1,00
1,00
1,00
5,50
5,60
5,70
7,00
7,20
7,40
8,10
Sacombank
-
-
-
-
5,70
5,80
5,90
8,30
8,60
8,90
9,00
Techcombank
1,00
-
-
-
5,90
5,90
5,90
9,00
9,00
9,00
9,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
8,10
8,10
8,50
8,50
DongA Bank
1,00
1,00
1,00
1,00
6,00
6,00
6,00
9,35
9,45
9,50
9,50
Agribank
0,50
-
-
-
4,90
4,90
5,40
6,10
6,10
7,40
7,40
Eximbank
0,20
1,00
1,00
1,00
5,60
5,70
5,80
6,80
7,10
7,40
7,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.250 23.620 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.300 23.600 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.255 23.615 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.260 23.600 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.310 23.570 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.250 23.700 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.265 23.750 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.301 23.622 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.270 23.850 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 23.320 23.630 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.200
67.620
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.200
67.600
Vàng SJC 5c
66.200
67.620
Vàng nhẫn 9999
54.300
55.500
Vàng nữ trang 9999
54.100
55.100