Lấy sản phẩm bù lãi suất!

09:00 | 16/07/2015

Hoạt động cho vay tiêu dùng luôn được đánh giá là tiềm năng, song rủi ro nợ xấu tiềm ẩn không nhỏ. Đó cũng chính là lý do vì sao lãi suất cho vay tiêu dùng được các CTTC áp dụng phải cao hơn lãi suất NH.

Ông Kalidas Ghose

Tiềm năng của thị trường cho vay tiêu dùng còn rất lớn, nhưng để khai thác được một cách hiệu quả cũng đòi hỏi các tổ chức cho vay tín dụng tiêu dùng phải có sự đầu tư nhất định. Ở châu Âu, đã có thời kỳ nhiều NH muốn tham gia vào hoạt động cho vay tiêu dùng với quan niệm là họ đã quản lý khoản vay lớn cho vay trung, dài hạn thì việc quản lý một khoản vay tiêu dùng nhỏ cũng tương tự và họ đã rất tự tin.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, mô hình quản lý rủi ro của hai loại hình kinh doanh này hoàn toàn khác nhau. Vì thế, bằng kinh nghiệm của mình, một số công ty tài chính (CTTC) thừa nhận, hoạt động cho vay tiêu dùng cần phải được tách ra khỏi các hoạt động cho vay khác của NH, việc này không chỉ giúp minh bạch chi phí quản trị rủi ro cho NH mà còn tránh mang lại rủi ro về nợ xấu cho toàn hệ thống.

Trong xu thế các NHTM ồ ạt thành lập mới/mua lại CTTC để thực hiện chức năng cho vay tiêu dùng, TBNH có cuộc trao đổi với ông Kalidas Ghose - Tổng giám đốc FE Credit để hiểu rõ hơn những hoạt động nội tại của ngành này.

Mảng cho vay tiêu dùng tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, tuy nhiên vẫn có ý kiến cho rằng mức độ tăng trưởng hiện tại chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của ngành. Điều này đồng nghĩa với việc người tiêu dùng vẫn chưa quen với khái niệm vay tiêu dùng tín chấp qua CTTC. Ông suy nghĩ thế nào về điều này?

Dù chưa có số liệu chính xác nhưng tôi đánh giá cho vay tiêu dùng tại CTTC đang có tốc độ tăng trưởng trung bình 30-40% mỗi năm và sẽ tiếp tục tăng mạnh vào cuối năm. Điều này chứng tỏ ngành tín dụng tiêu dùng đã và đang tăng trưởng cao hơn ngành bán lẻ và có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn nhiều lần so với trung bình toàn ngành NH.

Lý do giúp cho ngành tăng trưởng thì rất nhiều, bao gồm: lạm phát được kiểm soát tốt cũng như niềm tin của người tiêu dùng được cải thiện đáng kể. Ngoài ra, có nhiều dấu hiệu cho thấy xu hướng tiết kiệm và thu nhập của người dân đang khá ổn định. Qua hồ sơ vay, có thể thấy tỷ lệ người vay sử dụng nguồn thu nhập để vay mua các sản phẩm hàng gia dụng và các dịch vụ khác ngày càng nhiều. Điều này chứng tỏ người tiêu dùng quen hơn với việc vay tiêu dùng qua CTTC. Để có kết quả này, thời gian qua các công ty phải liên tục đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ để phổ biến cho người tiêu dùng biết.

Một yếu tố nữa minh chứng cho sự phát triển nhanh của ngành đó là: ngày càng nhiều CTTC được thành lập và vốn của các CTTC hiện hữu được tăng cường rất nhiều.

Theo ông, điểm khác nhau giữa việc cho vay tiêu dùng tại NH và CTTC hiện nay là gì?

Các NH có thế mạnh trong việc tận dụng mạng lưới và nguồn vốn huy động giá rẻ để cho vay ra, cũng như thương hiệu trên thị trường mà họ đã xây dựng từ rất lâu. Thế nhưng, đó chỉ là những lợi thế mang tính thời điểm. Đối với các ngành tài chính tiêu dùng, những điểm thuận lợi để đi đến thành công chính là hệ thống, nhân viên và mạng lưới bán hàng rộng khắp cùng thời gian duyệt khoản vay nhanh chóng. Nhưng để tạo dựng nên các lợi thế này, NH phải có thời gian. Trong khi đó, các CTTC hiện hữu đã có sẵn điều này.

Đơn cử, FE Credit đã xây dựng được một mạng lưới điểm bán và đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, đặc biệt là việc phê duyệt khoản vay của FE Credit nhanh chóng, chỉ trong vòng 15 phút. Tuy không thể cung cấp số liệu cụ thể nhưng chúng tôi có thể khẳng định rằng FE Credit đang tăng trưởng tốt hơn kỳ vọng được đặt ra trong kế hoạch kinh doanh và cũng là đơn vị đang đi đầu thị trường so với các đối thủ. Vì vậy, công ty tự tin duy trì vị thế dẫn đầu trong ngành tín dụng tiêu dùng kể cả khi đã chuyển toàn bộ hoạt động tín dụng tiêu dùng từ VPBank sang CTTC TNHH VPBank dưới thương hiệu FE Credit.

Các CTTC cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tiên tiến đến khách hàng

Dẫu vậy, không thể phủ nhận thị trường đã chứng kiến không ít thất bại của CTTC, và kể cả NH trong việc đẩy mạnh cho vay tiêu dùng, do không kiểm soát được rủi ro nợ xấu. Ông nhận định về việc kiểm soát nợ xấu trong phân khúc cho vay tiêu dùng hiện nay?

Kinh nghiệm về quản lý rủi ro cũng như các quy trình quản lý rủi ro của FE Credit đã được xây dựng rất lâu, dựa trên kinh nghiệm thực tế. Công ty phải thường xuyên đánh giá lại chất lượng danh mục cho vay theo định kỳ hàng tháng, cải tiến và phát triển phương pháp tính điểm tín dụng hiện tại nhằm giám sát rủi ro tín dụng và các chỉ số cảnh báo. Ngoài ra, FE Credit cũng phân tích từng phân khúc sản phẩm dành cho khách hàng vay vốn, nhằm xác định các nhóm khách hàng có rủi ro cao trong hoạt động cho vay theo định kỳ hàng tháng.

Theo đó, FE Credit duy trì tỷ lệ nợ xấu thấp hơn nhiều so với kế hoạch đặt ra cũng như so với mức nợ xấu trung bình trên thị trường ở các hình thức cho vay hiện tại. Thậm chí nếu so sánh với các CTTC tiêu dùng trên khắp các thị trường mới nổi thì tỷ lệ nợ xấu của FE Credit hiện tại tương đương với các chỉ số nợ xấu tốt nhất trên thế giới. Vì vậy, việc công ty có thể quản lý và kiểm soát tốt nợ xấu trong nửa đầu năm nay không phải là một điều quá ngạc nhiên.

Một lần nữa, do quy định công ty không cho phép tiết lộ chi tiết về số liệu tài chính nhưng tôi tin chắc rằng tỷ lệ nợ xấu của công ty hiện thấp hơn rất nhiều so với chỉ tiêu hàng năm tính đến thời điểm này và chúng tôi hy vọng duy trì mức này đến hết năm nay.

Có phải để kiểm soát nợ xấu tốt, các CTTC chuyển hóa nó thành lãi suất cao. Do vậy, lãi suất luôn là nguyên nhân lớn nhất ngăn cách giữa người tiêu dùng và các CTTC?

Trước hết, tôi nhấn mạnh các CTTC hướng đến đối tượng khách hàng khác với NH truyền thống, do các NH truyền thống không thể tạo lợi nhuận từ đối tượng khách hàng này, chưa kể các khách hàng không có nhu cầu đối với tất cả những dịch vụ mà NH truyền thống cung cấp.

Các CTTC tiêu dùng phát triển những sản phẩm và dịch vụ đặc thù như những món vay tín chấp nhỏ lẻ để phục vụ các khách hàng này và phân phối sản phẩm vay qua những kênh phù hợp như Điểm giới thiệu dịch vụ/Điểm bán hàng tại các cửa hàng (thay vì chi nhánh như các NH) với nền tảng quản trị rủi ro phù hợp, chẳng hạn như thẩm định nhanh và được tự động hóa cũng như quy trình thu hồi nợ được quản lý chặt chẽ.

Song song đó, hoạt động cho vay tiêu dùng luôn được đánh giá là tiềm năng, song rủi ro nợ xấu tiềm ẩn không nhỏ. Đó cũng chính là lý do vì sao lãi suất cho vay tiêu dùng được các CTTC áp dụng phải cao hơn lãi suất NH. Nhưng hiện nhiều người vẫn chưa có cái nhìn chính xác về hoạt động, sản phẩm cũng như mức lãi suất mà các công ty cho vay tiêu dùng, trong đó có FE Credit cung cấp. Bởi đối với cho vay tài chính, tiêu dùng cũng có nhiều sản phẩm và nhiều mức lãi suất áp dụng khác nhau.

Ngoài ra, lãi suất cho vay tiêu dùng cao hơn so với bình thường là do tác động bởi mức độ rủi ro cao tính theo mức thu nhập và cũng như thiếu đi lịch sử giao dịch tín dụng của phân khúc khách hàng này, bên cạnh cơ sở chi phí bỏ ra rất cao để quản lý các khoản vay nhỏ lẻ, vốn là đặc thù của ngành tín dụng tiêu dùng.

Chưa thể giải quyết được yếu tố lãi suất thấp, vậy các CTTC làm gì để bù đắp cho khách hàng vay? Và theo ông, liệu có sự khác nhau giữa kỳ vọng của người dân và hướng đi của CTTC hay không?

Lấy FE Credit là một ví dụ. Khi chưa thể giảm lãi suất cho vay thì công ty phải bù đắp bằng sản phẩm tiện ích. Hiện nay, FE Credit đang tiên phong trong các CTTC tiêu dùng trong việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tiên tiến đến khách hàng, giúp FE Credit giành được vị thế dẫn đầu trên thị trường.

Tuy nhiên, FE Credit vẫn còn nhiều cơ hội (“room”) để cải thiện và FE Credit quyết tâm không ngừng cải tiến sản phẩm và dịch vụ của mình tốt hơn nữa để tăng trưởng kinh doanh thông qua việc thu hút thêm nhiều khách hàng so với trước đây.

Vì vậy, công ty đang cố gắng mở rộng dải sản phẩm bằng cách nắm bắt các nhu cầu chưa được phục vụ của khách hàng và đem lại những sản phẩm phù hợp với khách hàng thuộc phân khúc mục tiêu của công ty. Công ty cũng đang giảm thiểu thời gian xử lý khoản vay và tạo điều kiện thuận lợi để khách hàng thanh toán khoản vay thông qua nhiều kênh thanh toán phù hợp.

Ông dự định khi nào sẽ là thời điểm để ngành tài chính tiêu dùng trong nước có thể vươn lên mạnh mẽ? Giả sử, tình hình kinh tế trong năm nay có là điều kiện tốt để tăng trưởng tín dụng cho vay tiêu dùng không?

Mặc dù vấp phải một số thách thức trong quá khứ, nền kinh tế đã giữ vững được sự ổn định và các xu hướng tăng trưởng đang dần hiện rõ khiến các tổ chức tín dụng toàn cầu quan tâm hơn đến Việt Nam. Tình hình lạm phát cán cân thương mại và tỷ giá được kiểm soát; là các yếu tố thúc đẩy niềm tin của người tiêu dùng, và cũng là điềm báo tốt lành cho sự phát triển của ngành tín dụng tiêu dùng. Nhìn chung, nền kinh tế Việt Nam đã cho thấy nhiều dấu hiệu vô cùng tích cực và được kỳ vọng sẽ tạo đà cho sự tăng trưởng của ngành tín dụng tiêu dùng trong ngắn và trung hạn.

Nói về thời điểm, thị trường tín dụng tiêu dùng Việt Nam đã bắt đầu phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng dự báo trên 35% và sẽ còn cao hơn nữa khi các đối thủ cạnh tranh đã bắt đầu công bố kế hoạch thâm nhập thị trường.

Xin cảm ơn ông!

Quỳnh Vũ thực hiện

Nguồn:

Tags: cho vay

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.380 23.590 24.773 25.957 28.032 29.028 208,11 218,71
BIDV 23.390 23.570 25.160 25.995 28.367 28.968 209,82 218,27
VietinBank 23.385 23.575 25.137 25.972 28.339 28.979 210,49 218,19
Agribank 23.370 23.520 25.054 26.604 28.322 28.923 212,19 217,00
Eximbank 23.430 23.600 25.061 25,645 28.372 29.033 212,78 217,75
ACB 23.430 23.600 25.052 25.596 28.542 29.088 213,60 218,23
Sacombank 23.415 23.600 25.140 29.003 28.467 29.003 212,73 219,25
Techcombank 23.380 23.580 24.894 25.880 28.122 29.080 211,92 218,98
LienVietPostBank 23.380 23.560 24.961 25.941 28.361 29.330 211,80 222,95
DongA Bank 23.450 23.590 25.120 25.530 28.410 28.910 209,70 216,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.000
47.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.000
47.900
Vàng SJC 5c
47.000
47.920
Vàng nhẫn 9999
44.700
45.700
Vàng nữ trang 9999
44.400
45.500