Liệu Ngân hàng trung ương Anh có lạc quan về triển vọng kinh tế?

09:33 | 10/08/2020

Những đánh giá của NHTW Anh (BoE) về triển vọng ngắn hạn của kinh tế Anh được phát đi sau cuộc họp chính sách tháng 8 được nhiều nhà phân tích cho là quá lạc quan.

Giữ nguyên lãi suất thấp kỷ lục

Cuộc họp chính sách tháng 8 của BoE đã kết thúc hôm thứ Năm tuần trước (6/8) với việc tất cả các thành viên của Ủy ban Chính sách tiền tệ (MPC) đã bỏ phiếu nhất trí giữ nguyên lãi suất ở mức 0,1% cũng như phủ quyết việc mở rộng chương trình mua trái phiếu của mình.

Trước đó để hỗ trợ nền kinh tế ứng phó với đại dịch coronavirus, BoE đã hai lần cắt giảm lãi suất khẩn cấp trong tháng 3 từ 0,75% xuống mức thấp kỷ lục còn 0,1% và duy trì mức lãi suất này cho đến nay. Cơ quan này cũng tái khởi động lại Chương trình mua tài sản của mình và tiếp tục mở rộng quy mô mua tài sản thêm 100 tỷ bảng Anh (131,4 tỷ USD) lên tới 745 tỷ bảng hồi tháng 6 vừa qua.

Tân Thống đốc NHTW Anh Andrew Bailey

Đáng chú ý, BoE tỏ ra khá lạc quan về triển vọng ngắn hạn của nền kinh tế khi dự kiến GDP của đảo quốc sương mù chỉ giảm 9,5% trong năm 2020 thay vì giảm tới 14% như dự báo đưa ra hồi tháng 5. Sau đó kinh tế Anh được dự báo sẽ tăng trưởng trở lại 9% vào năm 2021 và tăng thêm 3,5% vào năm 2022.

Tuy nhiên, BoE cho biết họ không hy vọng nền kinh tế Anh sẽ vượt qua mức trước khi đại dịch coronavirus bùng phát (quý 4/2019) cho đến cuối năm 2021. Trước đó, BoE đã dự đoán rằng GDP của nước này có thể trở lại quy mô của quý 4/2019 trong nửa cuối của năm 2021.

Theo BoE, sự phục hồi kinh tế của Anh “phụ thuộc nhiều vào diễn biến của dịch bệnh, các biện pháp được thực hiện để bảo vệ sức khỏe cộng đồng cũng như cách thức mà chính phủ, hộ gia đình và doanh nghiệp ứng phó với các yếu tố này”.

Cũng trong báo cáo về chính sách tiền tệ tháng 8, BoE cho biết tỷ lệ thất nghiệp tại Anh chỉ tăng lên khoảng 7,5% vào cuối năm 2020 trước khi dần hồi phục, giảm so với dự báo trước đó là xấp xỉ 10%. Lạm phát tại Anh là 0,6% trong tháng 6, tăng từ 0,5% trong tháng 5, nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 2% của BoE. Đáng chú ý BoE dự báo lạm phát sẽ giảm xuống mức trung bình khoảng 0,25% trong nửa cuối năm do tác động của đại dịch coronavirus.

Hugh Gimber - Chiến lược gia thị trường toàn cầu tại JPMorgan Asset Management cho biết, mặc dù lạc quan hơn so với dự báo trước đó, nhưng báo cáo của BoE vẫn đưa ra một "đánh giá nghiêm túc" về những rủi ro suy giảm. “Mặc dù lạc quan hơn so với kịch bản được công bố đầu năm nay, nhưng kỳ vọng về tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh vào cuối quý 4 vẫn còn rõ ràng”, vị chuyên gia này nhận xét.

Có quá lạc quan?

Thế nhưng theo chiến lược gia này, mặc dù BoE đã sử dụng một loạt các công cụ chính sách để hỗ trợ nền kinh tế Anh ứng phó với đại dịch, nhưng có vẻ như BoE sẽ không làm gì thêm và áp lực hỗ trợ nền kinh tế sẽ rơi vào phía Chính phủ.

Trong khi nhiều nhà phân tích khác lại cho rằng những dự báo của BoE về triển vọng ngắn hạn của kinh tế Anh vẫn còn quá lạc quan. Kallum Pickering - Chuyên gia kinh tế cấp cao của Berberg cho biết: “Dự báo kinh tế cập nhật quá lạc quan của BoE bỏ ngỏ khả năng kích thích tiền tệ nhiều hơn vào cuối năm nay”. “Liên quan đến những thách thức xuất phát từ đại dịch Covid-19, được nhấn mạnh bởi việc tái áp dụng các biện pháp ngăn chặn khiêm tốn gần đây ở các khu vực chính của Vương quốc Anh, sự phục hồi hình chữ V mà BoE tiếp tục dự kiến dường như sẽ không xảy ra”, Pickering nói thêm.

Theo đó, mặc dù các nhà kinh tế của Berberg cũng dự báo kinh tế Anh sẽ suy giảm 9,5% trong năm nay như BoE, nhưng dự báo về tăng trưởng trong 2 năm tới của kinh tế Anh là thấp hơn nhiều, tương ứng chỉ là 6,5% và 2,2%. Đặc biệt, theo các nhà kinh tế này, GDP của Anh sẽ không trở lại mức của quý 4/2019 cho đến đầu năm 2023.

Các nhà phân tích của City cũng kỳ vọng BoE sẽ loại bỏ những dự báo trước đó của mình về sự phục hồi hình chữ V của kinh tế Anh. Thế nhưng dù Biên bản cuộc họp tháng 8 của MPC dự báo GDP sẽ không phục hồi đến mức của quý 4/2019 cho đến cuối năm 2021, thay vì nửa cuối năm 2021 như dự báo trước đó; nhưng quan điểm về sự phục hồi mạnh mẽ của kinh tế Anh vẫn không thay đổi.

Tuy nhiên, phát biểu với CNBC, tân Thống đốc BoE Andrew Bailey cho biết ông không đồng tình với những ý kiến cho rằng đánh giá của BoE về triển vọng kinh tế ngắn hạn của Anh là quá lạc quan. Mặc dù các dữ liệu kinh tế gần đây cho thấy sự phục hồi ở một số khu vực trong nền kinh tế, nhưng MPC vẫn không căn cứ vào đó để đưa ra các dự báo của mình.

Theo ông “nhân tố bí ẩn” chính là diễn biến của dịch bệnh. Bởi vậy trong các báo cáo của BoE luôn bao gồm “mức độ không chắc chắn lớn nhất từ trước đến nay trong bất kỳ dự báo nào của MPC”. “Liên quan chặt chẽ đến vấn đề đó là sự thận trọng tự nhiên của mọi người khi phản ứng với diễn biến của Covid và cách mọi người thận trọng về việc tái tham gia vào hoạt động kinh tế”, Bailey nói và nhấn thêm rằng: BoE đã thấy bằng chứng về điều này.

Mai Ngọc

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250