Lựa chọn và hành động cho khát vọng Việt

10:16 | 05/02/2020

Trong không khí vui mừng những ngày đầu năm mới 2020, TS. Võ Trí Thành – thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng vẫn mang chút suy tư vì “Không phải lúc nào thế giới cũng “chiều lòng” chúng ta. Ông cho rằng 2020 không chỉ là bứt phá mà phải hành động quyết liệt tạo niềm tin”.  

Thủ tướng: Giảm thiểu tác động của dịch bệnh nCoV đối với nền kinh tế
Kinh tế số tại Việt Nam: Đặt nền móng cho tăng trưởng trong tương lai
TS. Võ Trí Thành

Một thế giới trắc trở và biến động

Thưa ông, những kết quả đã đạt được trong năm 2019 là một nền tảng thuận lợi cho kinh tế Việt Nam năm 2020. Nhưng chúng ta đang ở trong một thế giới trắc trở và biến động khó lường. Vậy theo ông, những yếu tố nào từ bên ngoài có thể ảnh hưởng tới nền kinh tế nước ta trong năm 2020?

Năm 2020, kinh tế toàn cầu vẫn bị bao phủ bởi một màu mây xám. Nhiều dự báo cho rằng tăng trưởng kinh tế thế giới và tăng trưởng thương mại trong các năm 2019-2021 sẽ giảm tốc, một số nước OECD đã có dấu hiệu suy thoái. 

Đồng thời còn nhiều bất định và rủi ro cao. Đó là cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung khó lường, chưa có hồi kết. Đó là hệ lụy của đối đầu địa – chính (ở Trung Đông, Đông Bắc Á và trên Biển Đông). Đó là va đập giữa xu hướng tự do hóa thương mại, đầu tư với chủ nghĩa bảo hộ. Đó là những tác động lớn từ sự thay đổi chính sách tiền tệ ở các nước phát triển. Đó là biến đổi khí hậu, là sự biến động giá các hàng hóa cơ bản... Đó là chưa nói tới những nguyên nhân khác của thời sáng tạo tài chính đi cùng “lòng tham”...

Bất định và rủi ro cao cũng là nhân tố kìm hãm đà tăng trưởng.

Bên cạnh đó là sự chuyển đổi chiến lược tại nhiều quốc gia thích ứng với những xu thế không cưỡng được như: quá trình đô thị hóa gia tăng cùng sự nổi lên của tầng lớp trung lưu; cách mạng tiêu dùng; Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số. 

Ông đã nói tới dự báo về khả năng kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái, thậm chí khủng hoảng trong thời gian tới?

Một số ý kiến cho rằng “nguy cơ suy thoái – khủng hoảng chưa gần”. Nhưng dấu hiệu của nguy cơ đã được chỉ ra. Đó là bong bóng tài chính với các biểu hiện quy mô tài sản tài chính tăng cao và nguy cơ “bong bóng” chứng khoán (chỉ số thị trường chứng khoán tăng và ở mức cao); sự phình to của ngân hàng ngầm; chính sách tiền tệ của nhiều nước được nới lỏng trở lại khi chưa kịp quay về trạng thái bình thường; lãi suất trái phiếu chính phủ Mỹ quá thấp và tiếp tục giảm; nợ công ở nhiều nước lên cao... 

Từ khóa là “hành động” và “niềm tin”

Bên cạnh những yếu tố bất định từ kinh tế thế giới, ông cũng nói vẫn còn những trăn trở, day dứt về bứt phá của Việt Nam? 

Đằng sau kết quả, những con số ấn tượng cùng tiến bộ trên nhiều chiều cạnh kinh tế khác, vẫn còn đó là những trăn trở, day dứt từ góc nhìn phát triển bền vững, thúc đẩy cải cách, đổi mới sáng tạo và cảm nhận của thị trường.

Tôi muốn thấy nhiều hơn sự bứt phá, điều mà tôi chờ đợi khi Nghị quyết 01/2019/NQ-CP đã nhấn mạnh rất nhiều đến bứt phá. Nhưng những nỗ lực bứt phá để cải thiện vẫn chưa đủ mạnh. Nhiều nội dung cải cách có tính nền tảng triển khai với kết quả còn khá xa so với kỳ vọng. Chất lượng tăng trưởng cũng chậm cải thiện.

Vì thế, giải ngân đầu tư công vẫn chậm, cổ phần hóa DNNN năm 2019 mới làm được 28% kế hoạch... Bên cạnh đó, dù Năng lực cạnh tranh quốc gia trên bảng xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) Việt Nam tăng 10 bậc lên vị trí 67/141, nhưng vẫn ở thứ hạng thấp về những chỉ số thể hiện chất lượng bền vững của năng lực cạnh tranh quốc gia (sự năng động của doanh nghiệp (89/141), năng lực đổi mới sáng tạo (76), thể chế (89); cơ sở hạ tầng (77); y tế (71); kỹ năng (93); thị trường sản phẩm (79); thị trường lao động (83)...   

Thực tế là luôn có khoảng cách giữa mong muốn và thực thi. Đơn cử như nền kinh tế số có những quy luật mới, không phải tuyến tính, không phải sự kéo dài của quá khứ là tương lai, nên nếu người đứng đầu không dám chấp nhận cuộc chơi, không dám chơi, thì cả bộ máy sẽ không ai dám làm. Vấn đề không chỉ là những thách thức với xu hướng mới, mà ngay cả những câu chuyện truyền thống, những nút thắt thể chế còn chưa được gỡ hết, khiến nhiều người trong bộ  máy không dám làm khác, không dám sáng tạo dù có thể có tâm tốt, có năng lực...

Vậy theo ông, đối sách của Việt Nam nên theo hướng nào?

Trong thế giới đa cực, kinh tế bất định, lòng tin của người dân, của nhà đầu tư, của doanh nghiệp... sẽ quyết định tốc độ của Việt Nam trong phát triển và hội nhập. Vì vậy đối sách là giữ vững lòng tin. 

Năm 2020 không chỉ là năm tổng kết quá khứ mà còn chuẩn bị tương lai với Kế hoạch 5 năm, chiến lược 10 năm và tầm nhìn đến 2045, 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Với tinh thần như vậy, từ khóa của điều hành trong năm 2020 không chỉ là “bứt phá”, mà còn phải là “hành động” và “trách nhiệm”, “sáng tạo” để giữ vững lòng tin, tạo niềm tin. 

Bên cạnh việc đảm bảo ổn định vĩ mô, tăng cường khả năng chống chịu, cần chú trọng quản trị rủi ro, nền kinh tế còn rất cần đẩy mạnh cải cách cơ cấu, tạo dựng những tiền đề thích ứng với xu thế mới để tạo đột phá phát triển. Cải cách, sáng tạo và cả chỉ tiêu phải thực sự gắn với động lực mới và những đòi hỏi thay đổi về chất trong phát triển: chất lượng – hiệu quả - bền vững – bao trùm.

Một vấn đề nữa là để tăng sự chống chịu của nền kinh tế, thì bên cạnh sự chuẩn bị về chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ, cần chú trọng việc chống  những cú sốc ngay trong lòng đất nước, những cú sốc ở tầm vi mô. Đây là những bài học nhãn tiền của năm 2019, qua các vụ việc về ô nhiễm không khí, nước, đất, môi trường... Thực tế vừa qua cho thấy, cách ứng xử của chúng ta với các cú sốc này chưa tốt, cả về tốc độ, sự phối hợp, tính quyết liệt trong xử lý và trách nhiệm…

Vậy niềm tin của ông về năm 2020 thế nào, thưa ông?

Mục tiêu năm 2020 đã được Quốc hội đặt ra: tăng trưởng 6,8%, lạm phát không quá 4% cùng những chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội khác. Đây là lựa chọn khá cẩn trọng với những thành tích đạt được trong năm 2019, song cũng hợp lý.

Theo kịch bản dự báo của Trung tâm Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2025 đạt trung bình 7%/năm; lạm phát ở mức từ 3,5-4,5%/năm; năng suất lao động tăng khoảng 6,3% năm. Nhưng nếu Việt Nam tận dụng được CMCN 4.0, cải thiện chất lượng thu hút đầu tư, phát triển tốt nền tảng kinh tế hiện tại thì GDP có thể tăng trưởng trung bình 7,5%/năm. 

Đây cũng là tiền đề cho một Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và vượt qua bẫy thu nhập trung bình, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, Nước mạnh, Dân chủ, Công bằng, Văn minh”. Suy nghĩ, lựa chọn và hành động cho khát vọng Việt không chỉ là bắt kịp mà còn tiến cùng và thậm chí có những chiều cạnh vượt lên thời đại.

Linh Đan thực hiện

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.310 24.577 25.700 29.749 30.378 204,34 213,67
BIDV 23.165 23.305 24.914 25.673 29.860 30.471 205,33 212,97
VietinBank 23.167 23.317 24.868 25.703 29.822 30.462 208,25 214,25
Agribank 23.185 23.290 24.944 25.354 29.957 30.471 209,00 212,98
Eximbank 23.170 23.300 24.873 25.239 29.954 30.394 209,62 212,70
ACB 23.170 23.300 24.902 25.255 30.044 30.394 209,53 212,51
Sacombank 23.139 23.301 24.905 25.360 30.004 30.411 209,01 213,57
Techcombank 23.150 23.310 24.642 25.604 29.613 30.562 207,89 214,68
LienVietPostBank 23.170 23.290 24.813 25.297 29.980 30.450 209,17 213,23
DongA Bank 23.190 23.290 24.900 25.230 29.950 29.950 206,10 211,90
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
44.650
45.020
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.650
45.500
Vàng SJC 5c
44.650
44.520
Vàng nhẫn 9999
44.650
45.150
Vàng nữ trang 9999
44.200
45.000