Lương thực, thực phẩm đẩy CPI tháng 8 tăng 0,25%

11:13 | 29/08/2021

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2021 tăng 0,25% so với tháng trước, tăng 2,51% so với tháng 12/2020 và tăng 2,82% so với tháng 8/2020, theo Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2021 vừa được Tổng cục Thống kê công bố sáng 29/8.

Đóng góp vào mức tăng 0,25% của CPI tháng Tám, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 4 nhóm tăng giá so với tháng trước, 4 nhóm giảm giá, 3 nhóm giữ giá ổn định (nhà ở và vật liệu xây dựng; thiết bị và đồ dùng gia đình; hàng hóa và dịch vụ khác).

luong thuc thuc pham day cpi thang 8 tang 025

Đại dịch Covid-19 ghi dấu ấn lớn trong diễn biến giá cả tháng Tám. "Giá lương thực, thực phẩm tăng tại các địa phương thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm phòng chống dịch Covid-19 là nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tám", Tổng cục Thống kê cho biết.

Phân tích chi tiết hơn, báo cáo cho biết chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,69% so với tháng trước, trong đó chỉ số giá gạo tăng 0,44% do nhu cầu tiêu dùng, dự trữ gạo của người dân và chi phí vận chuyển gạo giữa các địa phương tăng trong tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp.

Cũng do các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc giãn cách xã hội, người dân hạn chế tối đa ra ngoài nên nhu cầu dự trữ, tiêu dùng thực phẩm tăng, bên cạnh đó nguồn cung bị hạn chế, chi phí vận chuyển hàng hóa tăng cao do các địa phương thực hiện nghiêm các biện pháp giãn cách nên các doanh nghiệp vận tải gặp khó khăn trong quá trình lưu thông, theo đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tháng 8/2021 tăng 0,97% so với tháng trước.

Chỉ số giá nhóm ăn uống ngoài gia đình tháng 8/2021 tăng 0,19% so với tháng trước, trong đó ăn ngoài gia đình tăng 0,18% do giá lương thực, thực phẩm đầu vào tăng; uống ngoài gia đình tăng 0,14% do thời tiết nắng nóng nhu cầu đồ uống tăng cao; thêm vào đó do dịch bệnh diễn biến phức tạp, các hàng ăn chủ yếu bán đồ ăn mang đi nên giá đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,31%.

Bên cạnh đó, giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh 14 đợt làm cho giá xăng A95 tăng 4.660 đồng/lít; giá xăng E5 tăng 4.380 đồng/lít và giá dầu diezen tăng 3.290 đồng/lít. So với cùng kỳ năm trước, giá xăng dầu trong nước bình quân 8 tháng năm nay tăng 22,86%, làm CPI chung tăng 0,82 điểm phần trăm.

Cùng với đó, giá dịch vụ giáo dục 8 tháng tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước làm CPI chung tăng 0,24 điểm phần trăm. Giá dịch vụ giáo dục tăng do ảnh hưởng từ đợt tăng học phí năm học mới 2020-2021 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ…

Nhưng ở chiều ngược lại, Covid-19 cũng hạn chế tăng giá hoặc kéo giảm giá một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu.

Cũng theo Tổng cục Thống kê, mặc dù giá điện sinh hoạt tăng 0,35% so với tháng trước (làm CPI chung tăng 0,01 điểm phần trăm) nhưng chủ yếu do tăng ở các địa phương không được hỗ trợ giảm giá tiền điện. Trng khi đó, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ được hỗ trợ giảm giá điện theo Công văn số 4748/BCT-ĐTĐL ngày 6/8/2021 của Bộ Công Thương về hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện cho các khách hàng sử dụng điện bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 lần thứ tư.

Tiền thuê nhà cũng giảm 1,7% so với tháng trước chủ yếu do nhiều hộ gia đình giảm giá để chia sẻ khó khăn với người dân, đồng thời khuyến khích cho thuê lâu dài trong tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp.

Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở cũng giảm 0,2% so với tháng trước do giá thép, giá cát, giá xi măng đã tăng cao ở các tháng trước, từ giữa tháng Bảy giá thép, cát, xi măng giảm giá khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhu cầu vật liệu xây dựng và dịch vụ sửa chữa nhà ở giảm.

Giá nước sinh hoạt giảm 0,3% so với tháng trước, tập trung chủ yếu ở các địa phương thực hiện điều chỉnh giảm giá nước sinh hoạt hỗ trợ cho người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tháng 8/2021 giảm 0,03% so với tháng trước, chủ yếu do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương khiến du lịch bị hạn chế làm cho giá dịch vụ du lịch trọn gói tháng 8/2021 giảm 0,04% so với tháng trước; khách sạn, nhà khách giảm 0,01%. Bên cạnh đó, giá thiết bị văn hóa như ti vi màu giảm 0,23% so với tháng trước; đầu DVD giảm 0,19%...

CPI bình quân 8 tháng năm 2021 tăng 1,79% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016. Như vậy, mục tiêu kiểm soát lạm phát khoảng 4% chắc chắn có khả năng đạt được.

Tổng cục Thống kê cũng chỉ ra, lạm phát cơ bản tháng 8/2021 giảm 0,02% so với tháng trước, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước.

Bình quân 8 tháng năm 2021, lạm phát cơ bản tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2020, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 1,79%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, giá xăng, dầu, điện và giá gas tăng.

Mức lạm phát cơ bản tháng 8/2021 và 8 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước đều là mức thấp nhất kể từ năm 2011.

Thái Hoàng

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
6,10
6,30
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,20
4,40
4,80
5,50
6,20
Sacombank
0,03
-
-
-
3,10
3,20
3,30
4,60
4,90
5,50
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,45
2,45
2,65
3,90
3,90
4,50
4,50
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,20
4,40
5,60
5,60
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,40
3,40
3,40
5,30
5,50
5,80
6,10
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.780 23.050 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 22.810 23.050 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 22.795 23.055 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 22.800 23.050 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 22.820 23.030 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 22.840 23.030 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 22.830 23.060 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 22.790 23.055 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 22.840 23.030 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 22.860 23.030 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
60.250
60.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
60.250
60.950
Vàng SJC 5c
60.250
60.970
Vàng nhẫn 9999
51.650
52.350
Vàng nữ trang 9999
51.350
52.050