Miền Trung và Tây Nguyên: Cần đột phá mới trong triển khai tín dụng chính sách

18:30 | 20/05/2022

Tín dụng chính sách xã hội giai đoạn 2016 - 2021 đầu tư đến 100% xã, phường, thị trấn tập trung ưu tiên vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào DTTS, đã trở thành một chủ công hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác đạt hiệu quả cao về kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, góp phần thực hiện thắng lợi các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2021 của các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

mien trung va tay nguyen can dot pha moi trong trien khai tin dung chinh sach
Đoàn Chủ tịch Hội thảo

Câu chuyện giảm nghèo bền vững và nối gần khoảng cách phát triển kinh tế của miền Trung, Tây Nguyên với các vùng miền trên cả nước vẫn là thách thức đòi hỏi cần sớm có chính sách tổng thể và các giải pháp đột phá cùng việc cung ứng nguồn lực đầy đủ theo kế hoạch. Đó là điều mà các đại biểu chia sẻ tại Hội thảo “Thực trạng, hiệu quả tín dụng chính sách xã hội trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2021 và kế hoạch, giải pháp triển khai giai đoạn 2022 - 2025 tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên”. Thứ trưởng Bộ LĐTB&XH Lê Văn Thanh; Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh; Tổng Giám đốc NHCSXH Dương Quyết Thắng đồng chủ trì Hội thảo.

Hoạt động tín dụng chính sách luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ để phát huy vai trò, nâng cao hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội.

Sau hơn 7 năm thực hiện Chỉ thị số 40-CT/TW, tín dụng chính sách đã đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, đặc biệt, nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác sang NHCSXH ngày càng tăng. Đến nay, nguồn vốn địa phương ủy thác sang NHCSXH tăng 23.978 tỷ đồng, đưa tổng nguồn vốn ủy thác của các địa phương đến cuối tháng 5.2022 đạt 27.785 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng gần 10% trong tổng nguồn vốn tín dụng của NHCSXH. Riêng từ đầu năm 2022 đến nay, ngân sách địa phương đã ủy thác sang NHCSXH bổ sung nguồn vốn cho vay với tổng số tiền là 3.083 tỷ đồng.

mien trung va tay nguyen can dot pha moi trong trien khai tin dung chinh sach
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh nhấn mạnh: Tín dụng chính sách xã hội đã làm thay đổi căn bản nhận thức đồng bào DTTS tại miền núi

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19, NHCSXH đã chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan triển khai kịp thời cho vay đối với người sử dụng lao động để trả lương cho người lao động khi ngừng việc và sau khi phục hồi sản xuất. Từ khi triển khai thực hiện đến kết thúc đợt giải ngân ngày 31.3.2022, 63 chi nhánh NHCSXH tỉnh, thành phố đã thực hiện giải ngân cho 1.548 người sử dụng lao động với số tiền 4.787 tỷ đồng để trả lương cho 1.218.948 lượt người lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 trên địa bàn cả nước.

Từ đầu năm 2020, dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, tác động toàn diện đến nền kinh tế đất nước, ảnh hưởng nặng nề đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và khả năng thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm 2021 - 2025. Theo đó, ngày 30.1.2022, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Nhằm triển khai thực hiện các chính sách tín dụng ưu đãi kịp thời, hiệu quả, đúng đối tượng để hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách khác vượt qua khó khăn do đại dịch COVID-19, góp phần phục hồi và phát triển kinh tế, NHCSXH đang phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tập trung huy động mọi nguồn lực để tổ chức triển khai thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Đến nay, trong khoảng một tháng thực hiện, NHCSXH đã giải ngân các chương trình tín dụng hơn 2.335 tỷ đồng. Trong đó, cho vay hỗ trợ tạo việc làm là 2.033 tỷ đồng với gần 40.000 khách hàng được vay vốn, giải quyết tạo việc làm cho trên 58.000 lao động; cho vay HSSV mua máy tính, thiết bị phục vụ học trực tuyến gần 155 tỷ đồng với 14.500 khách hàng để mua 15.560 máy tính và thiết bị học trực tuyến; cho vay mua, thuê mua nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân, xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa nhà ở hơn 140 tỷ đồng với 794 khách hàng; cho vay cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học ngoài công lập bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 là 7,6 tỷ đồng với 90 cơ sở được hỗ trợ.

mien trung va tay nguyen can dot pha moi trong trien khai tin dung chinh sach
Tổng Giám đốc NHCSXH Dương Quyết Thắng phát biểu tại Hội thảo

Phát biểu tại Hội thảo, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh cho biết: Tín dụng chính sách xã hội được đánh giá là “điểm sáng” trong các chính sách giảm nghèo, góp phần tích cực thực hiện mục tiêu giảm nghèo nhanh và bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng nông thôn mới; đặc biệt tại miền núi tín dụng chính sách xã hội đã làm thay đổi căn bản nhận thức của người dân, nhất là hộ đồng bào DTTS từ mặc cảm, tự ti, sợ vay, không dám vay nay đã mạnh dạn vay vốn và làm ăn có hiệu quả; đồng thời đã giúp giải quyết những vấn đề căn bản, thiết yếu của cuộc sống, giảm bệnh tật, thất học và các tệ nạn xã hội, tiếp cận cách thức sản xuất hàng hóa, phát huy sự chủ động, sáng tạo để vươn lên thoát nghèo, làm giàu trên chính quê hương mình, góp phần đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi ở vùng nông thôn.

Đặc biệt, từ đầu năm 2022 đến nay, thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi phát triển kinh tế - xã hội, tín dụng chính sách xã hội tiếp tục là một trong những công cụ, giải pháp quan trọng của Đảng, Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp trong việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, tạo việc làm, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện chính sách tín dụng, tại khu vực miền núi các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên bên cạnh những kết quả to lớn đã đạt được vẫn còn một số khó khăn ảnh hưởng đến hiệu quả tín dụng chính sách xã hội như: Điều kiện tự nhiên vùng DTTS và miền núi thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, sạt lở đất, dịch bệnh; giao thông đi lại khó khăn, xa xôi, ảnh hưởng đến việc tiêu thụ hàng hóa; công tác lãnh, chỉ đạo của chính quyền địa phương có nơi, có lúc chưa phát huy được vai trò, tầm quan trọng của tín dụng chính sách xã hội, thiếu cơ chế lồng ghép hiệu quả giữa chính sách tín dụng với các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, phổ biến cách thức SXKD cho hộ đồng bào DTTS đặc biệt khó khăn, tạo điều kiện cho hộ vay sử dụng có hiệu quả đồng vốn...

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Hoàng Nam, các chính sách xã hội, trong đó có chính sách giảm nghèo luôn được chính quyền tỉnh Quảng Trị quan tâm. Qua quá trình triển khai, tín dụng chính sách xã hội đã góp phần hỗ trợ phát triển, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn các huyện miền núi tỉnh Quảng Trị. Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn tỉnh vẫn còn hạn chế do tình trạng nghèo tập trung vào các đối tượng đồng bào DTTS ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Các nội dung hỗ trợ phát triển sản xuất vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ chưa tập trung cao theo hướng sản xuất đồng bộ trên từng địa bàn xã hoặc vùng. Nguồn lực dành cho công tác giảm nghèo dàn trải trong nhiều chính sách, nguồn vốn hỗ trợ ít...

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Tuấn Hà chia sẻ: Giảm nghèo bền vững ở vùng DTTS là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào DTTS, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng các dân tộc. Vì vậy, Chính phủ phải ưu tiên tập trung nguồn vốn cho các địa phương nơi có nhiều đồng bào DTTS, góp phần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển, thu nhập, mức sống của đồng bào giữa các vùng miền trong cả nước. Các Sở, ngành ở địa phương cần tiếp tục, quan tâm đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất...

Tại Hội thảo, lãnh đạo các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên đã đóng góp nhiều ý kiến phát biểu đánh giá kết quả thực hiện, rút ra tồn tại, bài học kinh nghiệm trong công tác triển khai thực hiện tín dụng chính sách xã hội tại khu vực miền núi giai đoạn 2016 - 2021 ở mỗi địa phương liên quan; xác định được vai trò ý nghĩa, tầm quan trọng của tín dụng chính sách xã hội, nhất là việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 88 của Quốc hội về phê duyệt đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, Chương trình phục hồi phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ.

mien trung va tay nguyen can dot pha moi trong trien khai tin dung chinh sach
Thứ trưởng Bộ LĐTB&XH Lê Văn Thanh phát biểu kết luận tại Hội thảo

Từ đó, đề ra kế hoạch, giải pháp thiết thực, hiệu quả giai đoạn 2022 - 2025, góp phần tích cực trong công tác giảm nghèo bền vững. Gắn tín dụng chính sách với các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực miền núi và các mô hình hoạt động, dự án giảm nghèo; đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả vốn tín dụng chính sách.

Đây là nguồn thông tin vô cùng hữu ích để hỗ trợ, tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên tập trung nguồn lực, tăng cường công tác chỉ đạo, xây dựng các Đề án cho vay các chương trình tín dụng chính sách tại vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2022 - 2025 và tầm nhìn đến 2030.

Lắng nghe ý kiến các đại biểu, Tổng Giám đốc NHCSXH Dương Quyết Thắng cũng nêu ra những vấn đề cần quan tâm giải quyết tốt trong thời gian tới như đa dạng hóa phương thức huy động nguồn lực để NHCSXH đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vay vốn của người dân góp phần thực hiện thành công các chương trình mục tiêu quốc gia trong đó có chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững.

Tổng Giám đốc Dương Quyết Thắng cũng đề nghị các địa phương tiếp tục triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 40/CT-TW và Kết luận số 06/KL-TW của Ban Bí thư, xác định đây là nội dung công tác thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp; tiếp tục, quan tâm bố trí nguồn lực từ ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác để bổ sung nguồn vốn cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; chỉ đạo lồng ghép có hiệu quả các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, hướng dẫn cách làm ăn, đào tạo nghề, nhân rộng mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả, tiêu thụ sản phẩm gắn với tín dụng chính sách xã hội trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.

Đồng thời, nâng cao vai trò, trách nhiệm trong thực hiện các nội dung công việc ủy thác với NHCSXH, đặc biệt cùng tổ chức thực hiện triển khai hiệu quả công tác tuyên truyền, giám sát; phối hợp chặt chẽ với NHCSXH trong việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng chính sách xã hội; phát động các phong trào thi đua gắn chất lượng tín dụng nhận ủy thác với tiêu chí thi đua trong hệ thống của tổ chức chính trị - xã hội tạo động lực thi đua thực hiện tốt hoạt động uỷ thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội.

Văn Hưng Yên

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.110 23.420 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.130 23.410 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.110 23.410 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.120 23.400 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.160 23.360 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.160 23.370 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.125 23.477 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.124 23.415 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.100 23.380 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.180 23.370 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
68.150
68.770
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
68.150
68.750
Vàng SJC 5c
68.150
68.770
Vàng nhẫn 9999
53.300
54.250
Vàng nữ trang 9999
53.150
53.850