Minh bạch để tránh “vung tay quá trán”

13:10 | 30/10/2019

Việc tính lại quy mô GDP đang gây ra nhiều lo ngại khi những chỉ tiêu tài chính quốc gia quan trọng như tỷ lệ nợ công, tỷ lệ nợ nước ngoài, hay tỷ lệ bội chi ngân sách… đang được tính toán dựa trên GDP. 

Làm rõ cơ sở của chỉ tiêu tăng trưởng xuất khẩu với GDP trong hai năm 2019-2020
Thủ tướng Chính phủ: Tăng trưởng GDP năm 2019 đạt khoảng 6,8%
Quan trọng nhất vẫn là sử dụng minh bạch túi tiền quốc gia

Nhiều chỉ số vĩ mô thay đổi theo GDP

Thảo luận tại toạ đàm “Tính lại GDP và lập dự toán ngân sách nhà nước”, do Liên minh Minh bạch Ngân sách (BTAP) phối hợp với Trung tâm Phát triển và Hội nhập (CDI) tổ chức ngày 29/10, các chuyên gia kinh tế lưu ý, đây là những chỉ tiêu quan trọng phải tuân thủ hạn mức trần và chịu sự giám sát của Quốc hội. Vì vậy cần xác định rõ ràng và cụ thể những tác động từ tính lại GDP tới lập dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2020 và các năm tiếp theo.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, sau khi đánh giá lại GDP, hơn 76.000 doanh nghiệp được bổ sung vào đánh giá đã khiến GDP giai đoạn 2011-2017 tăng thêm 25,4%/năm. Từ đó đã nâng cao vị thế kinh tế của đất nước trong khu vực và trên thế giới. Cùng với quy mô GDP, một số chỉ số vĩ mô quan trọng khác cũng đã có sự thay đổi đáng kể.

Cụ thể, PGS-TS. Vũ Sỹ Cường - Học viện Tài chính cho biết, nợ công hiện ở ngưỡng 58,4% GDP sẽ về dưới 45% khi quy mô nền kinh tế được đánh giá lại. Tương tự, tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP sẽ giảm xuống còn khoảng 35%, thâm hụt ngân sách sẽ chỉ còn dưới 3% so với mức gần 4% hiện tại. Như vậy, dư địa vay nợ và chi tiêu sẽ xuất hiện nếu Quốc hội giữ nguyên các chỉ tiêu phát triển kinh tế cũ trên nền tảng của GDP mới.

Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh bổ sung, hiện tại theo số liệu của Tổng cục Thống kê, thuế gián thu so với GDP khoảng 11%, chiếm khoảng 60% thu nội địa. Nếu GDP tăng thêm 25,4% sẽ khiến tỷ lệ thuế gián thu trên GDP giảm xuống còn khoảng 8,7%. Đây là mức tương đối thấp (Trung Quốc khoảng 12%) và như vậy có thể nhiều loại thuế sẽ ra đời vì ta có dư địa để đánh thuế thêm.

TS. Võ Trí Thành - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia chia sẻ, ông cảm thấy sốc vì cách giải trình của cơ quan thống kê khi công bố con số quy mô GDP tăng thêm 25,4%. Theo ông Thành, ở đây có vấn đề trong việc phối hợp thông tin, lẽ ra khi họp báo phải có Bộ Tài chính và cả Tổng cục Thống kê cùng tổ chức, chưa kể phải có đại biểu Quốc hội cùng tham gia để thông tin kịp thời đến người dân.

Vấn đề khác khiến ông Thành băn khoăn là cơ quan thống kê chưa giải trình được nguồn tính thêm từ đâu, chuẩn mực như thế nào. Ví dụ 76.000 doanh nghiệp được tính thêm thuộc ngành – lĩnh vực nào, quy mô ra sao, đã đóng thuế chưa… Kéo theo đó là rất nhiều chỉ tiêu vĩ mô thay đổi, cùng cả quá trình lập ngân sách cũng thay đổi theo. “Chúng ta có thêm 76.000 doanh nghiệp, như vậy ta biết rõ về ta hơn, nhưng thực chất cũng chẳng biết gì. Nếu làm hời hợt như thế này, trong khi còn chưa tính đến nền kinh tế ngầm, thì chúng ta tưởng đã biết nhưng thật ra là vẫn chưa biết ta là ai”, ông Thành ví von.

Quan trọng nhất vẫn là chi tiêu minh bạch, hiệu quả

Chia sẻ về các lo ngại khi quy mô GDP thay đổi, song ông Phạm Đình Cường - nguyên Cục trưởng Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính cho rằng không nên quá lo ngại. Bởi khi Quốc hội quyết định kế hoạch tài chính trung hạn, thì các nhà hoạch định chính sách cũng không chỉ dựa vào một yếu tố là chỉ tiêu GDP để xác định mức độ vay của ngân sách. Yếu tố quan trọng nhất là phải đảm bảo việc vay nợ là an toàn ở khả năng trả nợ, sử dụng tiền vay hiệu quả…

“Không có chuyện mấy hôm nữa khi Quốc hội thông qua dự toán ngân sách năm 2020 mà thấy trần nợ công lên thì tha hồ vay thêm. Việc vay nợ phải đảm bảo 2 điều là khả năng trả nợ và hiệu quả sử dụng vốn, không phải vấn đề room”, ông Cường khẳng định.

Bà Mai Anh - Vụ Ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính cũng cho biết, mặc dù Tổng cục Thống kê đã công bố con số chính thức về quy mô tăng thêm của GDP, song đến nay Bộ Tài chính vẫn đang dùng số liệu cũ để lập dự toán NSNN. Mặc dù vậy, bà Mai Anh cũng cho rằng việc tính lại quy mô GDP không làm thay đổi nhiều mức độ an toàn của các chỉ tiêu tài chính quốc gia. Chẳng hạn chỉ tiêu thu ngân sách hàng năm được xác định trên tốc độ tăng trưởng kinh tế chứ không phải quy mô GDP. Cùng với đó là các chỉ số quan trọng khác như tỷ lệ lạm phát, tiến trình thực hiện các cam kết quốc tế, dự báo giá dầu…

Về chi ngân sách cũng vậy, các năm gần đây Quốc hội siết chặt tỷ lệ bội chi NSNN và khi quyết định thì quyết định bằng cả số tuyệt đối và %/GDP, do đó phải căn cứ nguồn lực kinh tế. “Chỉ tiêu về vay nợ cũng vậy, chúng ta phải căn cứ vào nhiều yếu tố như năng lực nền kinh tế, khả năng thu ngân sách, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ phải dưới 25% tổng thu NSNN; hoặc tính thanh khoản thị trường, khả năng trả nợ của ngân sách, hiệu quả sử dụng vốn vay...”, bà khẳng định.

TS. Vũ Sỹ Cường cũng cho rằng, dù quy mô GDP tăng lên bao nhiêu thì yếu tố quan trọng đối với “túi tiền quốc gia” vẫn là việc phải sử dụng minh bạch, hiệu quả. Ông Cường cho rằng, nhiều quốc gia trên thế giới không bao giờ dự báo được các biến số nội sinh như GDP, lạm phát, hay xuất nhập khẩu… tăng chính xác bao nhiêu, vì vậy khi thảo luận thường đưa ra biên độ. Trong khi đó các biến ngoại sinh như tỷ lệ bội chi, vay nợ… là các biến có thể kiểm soát được, thì cần thực hiện nghiêm khắc.

Khanh Đoàn

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.230 25.454 26.328 30.048 30.559 202,96 216,22
BIDV 23.110 23.230 25.536 26.291 30.166 30.746 207,20 214,02
VietinBank 23.100 23.230 25.454 26.289 30.042 30.682 210,07 216,07
Agribank 23.125 23.220 25.472 25.864 30.095 30.584 210,48 214,31
Eximbank 23.110 23.220 25.484 25.836 30.160 30.577 211,29 214,20
ACB 23.105 23.225 25.478 25.829 30.259 30.569 211,36 214,27
Sacombank 23.075 23.237 25.493 26.110 30.224 30.638 210,48 215,06
Techcombank 23.096 23.236 25.234 26.240 29.848 30.787 209,84 217,11
LienVietPostBank 23.100 23.220 25.423 25.897 29.202 30.657 210,84 214,79
DongA Bank 23.130 23.220 25.330 25.670 29.670 30.080 206,10 211,80
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
43.500
43.970
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
43.500
43.950
Vàng SJC 5c
43.500
43.970
Vàng nhẫn 9999
43.550
44.100
Vàng nữ trang 9999
43.150
43.950