Môi trường bên ngoài và khả năng đối phó của Việt Nam

07:12 | 30/04/2019

Theo dõi chặt chẽ, dự báo chính xác nhất diễn biến kinh tế, tài chính và giá cả trên thị trường thế giới phải là công việc thường xuyên và không thể lơ là.

Kinh tế toàn cầu đối mặt nhiều thách thức
Tự tin hội nhập ở tâm thế và tầm mức mới
Tăng trưởng toàn cầu chậm lại, cộng thêm cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung sẽ ảnh hưởng tới xuất khẩu của Việt Nam

Toàn cầu kém khả quan tạo áp lực lớn tới trong nước

Hết quý 1/2019, triển vọng đối với kinh tế toàn cầu năm 2019 không thực sự khả quan. Hầu hết các báo cáo của các tổ chức quốc tế đều hạ dự báo tăng trưởng kinh tế, thương mại và lạm phát toàn cầu. Mới đây nhất, vào ngày 9/4, IMF đã lần thứ 3 liên tiếp hạ dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay, xuống mức 3,3% (từ mức 3,5% đưa ra vào tháng 1). Thương mại hàng hóa và dịch vụ cũng dự báo giảm, chỉ ở mức 3,4% trong năm nay. Trước đó vào ngày 20/3/2019, Fitch hạ dự báo tăng trưởng toàn cầu xuống mức 2,8% cho 2019 (từ mức 3,1% trước đó).

Theo các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước, một trong những thách thức và rủi ro lớn nhất với kinh tế Việt Nam trong năm nay đến từ sự bất định của bên ngoài.

Báo cáo kinh tế vĩ mô (KTVM) mới đây của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) cho rằng, các yếu tố bên ngoài như chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, chủ nghĩa bảo hộ, rủi ro suy giảm của kinh tế Trung Quốc, tương lai bất định của tiến trình Brexit và mâu thuẫn trong nội bộ EU… sẽ khiến tương lai của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2019 trở nên bất định hơn do có thể chịu ảnh hưởng bởi các cú sốc từ thị trường thế giới.

“Hiện tăng trưởng cao nhất vẫn thuộc về nhóm nước ASEAN. Tuy nhiên, việc các liên kết kinh tế lớn trên thế giới rạn nứt đã, đang và sẽ gây không ít những bất ổn cho nhóm các nước này, trong đó có Việt Nam, đặc biệt trong hoạt động thương mại và toàn cầu hoá”, báo cáo này nhấn mạnh.

Cùng nhận định này, báo cáo KTVM của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV cho rằng, môi trường quốc tế bất ổn, khó lường có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực cho kinh tế Việt Nam, đặc biệt là xuất khẩu, đầu tư. Là một nước vẫn phải dựa nhiều vào xuất khẩu trong khi thương mại và tăng trưởng của các nước đối tác lớn (như Mỹ, Trung Quốc) đều dự báo giảm chắc chắn sẽ tác động không thuận.

Chưa kể, chủ nghĩa bảo hộ tiếp tục nổi lên, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung tiếp diễn và triển vọng đàm phán thỏa thuận giữa hai bên chưa rõ ràng (và theo rất nhiều nhận định, căng thẳng sẽ tiếp tục kéo dài) dù có thể tạo ra những cơ hội để Việt Nam có thể tận dụng nhưng xét về tổng thể cũng tác động không tích cực tới kinh tế trong nước.

“Những rủi ro chính đối với kinh tế Việt Nam xuất phát từ bên ngoài. Tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế lớn của thế giới (Mỹ, Trung Quốc, EU và Nhật Bản) – vốn là các đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam – có thể giảm mạnh hơn, cộng hưởng với những căng thẳng thương mại có thể khiến nhu cầu thương mại toàn cầu giảm. Việt Nam là một trong những quốc gia phụ thuộc vào thương mại nhiều nhất trong khu vực nên có thể sẽ chịu những tác động”, ông Nguyễn Minh Cường - chuyên gia kinh tế của ADB cảnh báo trong trao đổi với báo giới gần đây.

Trên thực tế, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý I/2019 của Việt Nam chỉ tăng 4,7% so cùng kỳ năm 2018 (thấp hơn so với các mức tăng 25,2%; 15,1% và 6,6% cùng kỳ các năm 2018, 2017 và 2016) và mới tương đương 22% kế hoạch năm. Đáng chú ý là nếu tháng 3/2019, Việt Nam xuất siêu tới gần 1,63 tỷ USD thì nửa đầu tháng 4 đã quay trở lại nhập siêu khoảng 746 triệu USD. Mặc dù việc nhìn vào diễn biến số liệu xuất nhập khẩu trong một thời gian ngắn chưa đủ cơ sở để cho thấy một xu hướng rõ ràng nhưng tình trạng “phập phù” trong xuất – nhập siêu thời gian vừa qua cũng phần nào phản ánh tác động của tính bất định của kinh tế toàn cầu đến Việt Nam.

Mặt khác, theo lý thuyết và quy luật kinh tế thông thường, khi tốc độ tăng trưởng kinh tế và thương mại suy giảm sẽ dẫn tới giảm nhu cầu đối với hàng hóa cơ bản, đặc biệt là dầu mỏ, kéo theo giá giảm. Tuy nhiên, ngay khi những dự báo không mấy khả quan về tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu được đưa ra thì cũng là lúc giá dầu mỏ vùn vụt tăng, hiện đã tăng trên 50% so với thời điểm Giáng sinh 2018.

Chủ động để kịp thời hóa giải

Giá dầu thế giới tăng cũng đã tác động lớn và tạo ra các áp lực đối với trong nước. Đơn cử chỉ riêng trong tháng 4 vừa qua, giá xăng dầu trong nước đã có 2 lần được điều chỉnh tăng mạnh. Theo các chuyên gia, việc giá xăng dầu tiếp tục tăng (nếu giá dầu thế giới tiếp tục tăng) sẽ không chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng mà khiến áp lực lạm phát cũng lớn hơn.

Trong các kịch bản CPI 2019 mà Bộ Tài chính đưa ra gần đây, lạm phát ở kịch bản cao nhất vẫn dưới mức 4% nhưng trên cơ sở giá dầu bình quân thế giới tăng không quá 15%. Vậy nếu giá dầu thế giới tăng cao hơn nữa thì sẽ tác động đến lạm phát trong nước thế nào? Do đó, đây là sẽ là một trong những biến số cần được theo dõi rất sát để có những tính toán, điều chỉnh chính sách trong nước hợp lý.

Triển vọng kinh tế toàn cầu kém khả quan và môi trường bên ngoài bất định hơn nhưng không phải không có những yếu tố tích cực hay những cơ hội mà Việt Nam có thể tận dụng để giảm thiểu các yếu tố bất lợi. Đơn cử, mặc dù dự báo xu hướng chung là kinh tế thế giới suy giảm và triển vọng năm 2019 xấu đi nhưng các tổ chức quốc tế thống nhất quan điểm cho rằng, ít có khả năng một cuộc suy thoái ở các nền kinh tế phát triển lớn sẽ xảy ra trong ngắn hạn.

Các tổ chức và chuyên gia cũng ghi nhận một xu thế mới là việc tạm dừng thắt chặt, thậm chí nới lỏng hoặc tiếp tục duy trì nới lỏng tiền tệ ở các nền kinh tế lớn để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn. Như việc Fed vào tháng 3 vừa qua đưa ra thông điệp không tăng lãi suất trong phần còn lại của năm nay, trong khi đó các chính sách kích thích kinh tế như tăng đầu tư cho cơ sở hạ tầng, cắt giảm thuế sẽ giúp nền kinh tế này tiếp tục tăng trưởng, hoặc chỉ suy giảm nhẹ.

Hay như việc kinh tế Trung Quốc đã đạt tốc độ tăng trưởng 6,4% trong quý I, bằng với mức tăng của quý IV/2018 (cao hơn mức dự báo 6,3% của các chuyên gia kinh tế) đã xua đi phần nào nỗi lo về sự giảm tốc của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Nếu tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc không suy giảm mạnh như dự báo, điều đó sẽ giúp nền kinh tế toàn cầu có được một cú hạ cánh mềm - và đây là điều mà ai cũng cảm thấy tốt hơn trong bối cảnh hiện nay.

Ngoài ra, các hiệp định thương mại tự do, mới đây nhất là CPTPP đã có hiệu lực và kỳ vọng EVFTA cũng sớm được phê chuẩn trong thời gian tới đây sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam tăng trưởng tích cực hơn, bù đắp phần nào cho những bất định và suy giảm nhu cầu của các đối tác lớn hiện nay.

Tóm lại, môi trường toàn cầu bất định và biến động hơn chắc chắn sẽ tác động đến một nền kinh tế ngày càng mở cửa như Việt Nam. Việc nhận diện kịp thời những biến động tiêu cực để có biện pháp hóa giải, đồng thời tận dụng các cơ hội tích cực mà bối cảnh quốc tế và quá trình hội nhập của Việt Nam tạo ra cũng là cách để Việt Nam trụ vững và vượt lên trong môi trường không thuận lợi đó. Muốn vậy, việc theo dõi chặt chẽ, dự báo tốt diễn biến kinh tế, tài chính và giá cả trên thị trường thế giới phải là công việc thường xuyên và không thể lơ là.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.140 23.350 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.170 23.350 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.160 23.350 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.180 23.330 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.160 23.330 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.175 23.345 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.164 23..374 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.160 23.360 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.160 23.330 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.200 23.330 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
48.420
48.790
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
48.420
48.770
Vàng SJC 5c
48.420
48.790
Vàng nhẫn 9999
47.550
48.200
Vàng nữ trang 9999
47.200
48.000