Môi trường kinh doanh cải thiện, nhưng chi phí không chính thức vẫn còn

09:48 | 10/11/2016

Báo cáo Điều tra môi trường kinh doanh ở Việt Nam vừa được Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương và Đại học Liên hợp quốc (UNU-WIDER) công bố cho thấy đã có sự cải thiện rõ rệt trong môi trường kinh doanh Việt Nam.

Ảnh minh họa

Sự cải thiện này thể hiện ngay ở những biến động của chính những DN trong diện điều tra năm 2013 và hoạt động của họ từ đó đến nay.

Điều tra cho thấy, trong số DN này chỉ có 8,2% đã rời khỏi thị trường. Và có tới 96% số DN hoạt động không chính thức ở năm 2013 đã trở thành DN chính thức trong khi ở giai đoạn 2011-2013 tỷ lệ này có 10%. “Tỷ lệ DN từ phi chính thức đang dần chính thức hóa này so với mặt bằng chung của thế giới là rất tốt và cần tiếp tục được thúc đẩy”, GS. Finn Tarp - Giám đốc UNU-WIDER bình luận.

Môi trường kinh doanh cải thiện nên tỷ trọng DN tiếp tục đầu tư tiếp đang có chiều hướng tăng lên. Khoảng 65% các DN có đầu tư mới trong cả hai năm 2013 và 2015, tăng 5 điểm phần trăm so với giai đoạn 2011- 2013.

Tuy nhiên, bên cạnh những chuyển biến tích cực, báo cáo cũng cho thấy những khó khăn trở ngại của DN. Đó là có tới 83% số DN được điều tra cho biết họ có gặp trở ngại trong kinh doanh. GS. John Rand (Đại học Copenhagen, thành viên nhóm nghiên cứu) - thành viên nhóm nghiên cứu cho biết: "Thiếu vốn và khó tiếp cận tài chính vẫn tiếp tục được đánh giá là trở ngại lớn nhất nhưng đã có cải thiện. So với các cuộc điều tra trước đây, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ này đã giảm đi, từ 45% năm 2011 xuống 30% năm 2013 và 24% năm 2015”.

Khó khăn thiếu cầu về sản phẩm với sức tiêu thụ thấp, nhưng mức độ cũng giảm đi; tỷ lệ các DN gặp khó khăn đã giảm từ 27% năm 2013 xuống còn 21% năm 2015.

Khó khăn xếp vị trí thứ ba là áp lực cạnh tranh mà các DNNVV phải đối mặt, với 17% DN điều tra, tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ của các cuộc điều tra năm 2011 và 2013.

“Những đặc tính môi trường kinh doanh này của các DNNVV cho thấy dấu hiệu rằng, dường như các điều kiện kinh doanh đã được cải thiện chút ít nhưng thứ tự các khó khăn vẫn không có sự thay đổi”, giáo sư John Rand nhận xét.

Một thành viên khác của nhóm nghiên cứu, TS. Smriti Sharma lưu ý một trong những vấn đề của DN là liệu tính chính thức và các thủ tục hành chính quan liêu có liên quan tới việc các DN phải chi ngoài không. Báo cáo cho thấy có 42,7% DN cho biết trong năm 2015 đã phải trả các khoản chi ngoài (chi phí không chính thức) để để kết nối được với các dịch vụ công, để có giấy phép, để giải quyết vấn đề về thuế và người thu thuế, để đạt được hợp đồng, để thỏa thuận với khách hàng, và chi cho những lý do khác.

Đáng lưu ý là 58% số DN có chi ngoài trong năm 2013 tiếp tục chi trong năm 2015. 30% các DN không chi ngoài trong điều tra năm 2013 lại có chi ngoài trong điều tra 2015.

Tỷ lệ chi ngoài để “tiếp cận các dịch vụ công” là 18,75% số DN tham gia khảo sát; tỷ lệ chi để “giải quyết các vấn đề về thuế” tăng từ 17,6% năm 2013 lên 24,1% năm 2015. “Các nguyên nhân khác” có tỷ lệ phí phi chính thức tăng cao từ 35- 38%, trong đó nhiều chi phí không hề giảm như: chi phí “để giải quyết các vấn đề liên quan đến hải quan", “Để có được giấy phép và chứng chỉ” và “Để dành được hợp đồng cung cấp cho chính quyền” có sự thay đổi là không đáng kể.

Theo ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện CIEM: Kết quả điều tra cũng mang lại lo ngại hơn khi các DN cho rằng trong tương lai họ sẽ tiếp tục chi ngoài để đối phó với những khó khăn trong việc tuân thủ các quy định của Nhà nước và để thuận hơn trong sản xuất kinh doanh.

“Kể từ khi tôi đến Việt Nam lần đầu tiên vào 15 năm trước cho đến nay tôi thấy với DN khoản chi không chính thức vẫn tiếp tục là vấn đề quan  trọng... ảnh hưởng xấu đến vận hành của nền kinh tế, khiến DN hoạt động không hiệu quả, giảm khả năng cạnh tranh”, GS Finn Tarp  giám đốc Đại học Liên hợp quốc (UNU-WIDER) phát biểu.

Theo ông, Chính phủ cần đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các DN thoát khỏi những chi phí phi chính thức. "Khi mọi thứ minh bạch thì chi phí không chính thức chắc chắn sẽ giảm”, GS. Finn Tarp nhấn mạnh.

Linh Đan

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
BIDV
0,10
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,10
4,10
4,40
4,70
4,80
6,40
6,40
Cake by VPBank
0,10
-
-
-
4,90
-
4,95
7,90
-
8,50
8,60
ACB
-
0,50
0,50
0,50
4,00
4,10
4,20
5,50
5,70
6,20
6,90
Sacombank
-
-
-
-
5,60
5,70
5,80
7,00
7,15
7,30
7,50
Techcombank
0,03
-
-
-
5,90
5,90
5,90
6,70
6,70
7,00
7,00
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
6,00
6,00
6,00
6,50
6,50
5,90
6,40
DongA Bank
0,50
0,50
0,50
0,50
5,00
5,00
5,00
6,80
6,90
7,40
7,70
Agribank
0,30
-
-
-
4,10
4,10
4,40
4,80
4,80
6,40
6,40
Eximbank
0,20
0,50
0,50
0,50
4,50
4,60
4,70
6,00
6,10
6,60
6,60
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.970 24.280 24.754 26.138 28.541 29.755 170.32 180.30
BIDV 23.960 24.240 24.915 26.013 28.716 29.883 170.53 178.87
VietinBank 23.990 24.290 25.021 26.156 28.886 29.896 171.64 180.19
Agribank 23.980 24.280 25.147 26.225 28.899 29.682 174.11 180.63
Eximbank 23.980 24.620 25.044 25.697 28.953 29.708 172.21 176.70
ACB 23.950 24.300 25.119 26.701 29.135 29.691 172.39 176.56
Sacombank 23.960 24.230 25.081 25.996 29.089 29.855 172.56 180.11
Techcombank 23.978 24.280 25.080 25.730 28.970 29.730 171.40 177.00
LienVietPostBank 23.980 24.550 25.088 26.320 29.058 29.881 172.21 181.04
DongA Bank 24.010 24.300 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
66.300
67.170
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
66.300
67.150
Vàng SJC 5c
66.300
67.170
Vàng nhẫn 9999
53.400
54.400
Vàng nữ trang 9999
53.200
54.000