Mỹ chính thức kết thúc thời kỳ lãi suất thấp

07:58 | 06/05/2022

Kiểm soát lạm phát và giữ thị trường việc làm ổn định là hai mục tiêu chính yếu của Fed. Khi hai mục tiêu này ngày càng đi về những hướng đối lập nhau, buộc Fed phải đẩy mạnh cuộc chiến chống lạm phát thông qua tăng mạnh lãi suất và như thế sẽ không còn thời kỳ “đồng tiền dễ dãi”.

my chinh thuc ket thuc thoi ky lai suat thap Mỹ: Fed tăng lãi suất với mức cao nhất trong hơn 20 năm qua

Kỷ nguyên tiền rẻ đã ở phía sau

Fed cuối cùng cũng phải rời xa việc duy trì lãi suất sát 0%. Điều này một mặt cho thấy niềm tin vào sức khỏe của thị trường việc làm hiện vẫn đang tốt lên. Nhưng mặt khác, cũng nhấn mạnh mối quan ngại của Fed về giá cả, chi phí sinh hoạt đang tăng cao. Nối tiếp đà tăng kéo dài liên tục nhiều tháng trước đó, chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 3 đã tăng vọt 8,5% so với cùng kỳ năm trước - tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 12/1981. Đây là yếu tố chính buộc Fed phải đưa ra mức tăng lãi suất 0,5% trong cuộc họp chính sách tháng 5, đồng thời có thể sẽ buộc Fed phải tiếp tục có những lần tăng lãi suất mạnh như vậy nữa trong các tháng tới.

Người dân và các doanh nghiệp Mỹ sẽ cảm nhận được sự thay đổi chính sách này của Fed thông qua chi phí đi vay cao hơn. Theo đó, các khoản vay thế chấp, vay mua ô tô sẽ không còn lãi suất “rẻ mạt” nữa. Ngược lại, các khoản tiết kiệm, tiền mặt có trong tài khoản ngân hàng cuối cùng “sẽ kiếm được thứ gì đó”, mặc dù không nhiều. Như Joe Brusuelas, chuyên gia kinh tế trưởng tại RSM US nói ngắn gọn: “Kỷ nguyên tiền rẻ sẽ không còn nữa”.

my chinh thuc ket thuc thoi ky lai suat thap
Fed tăng lãi suất mạnh hơn để đối phó với lạm phát

Khi đại dịch Covid-19 bùng phát, Fed đã duy trì các mức lãi suất gần như “miễn phí” nhằm khuyến khích các hộ gia đình và doanh nghiệp chi tiêu. Thậm chí để thúc đẩy hơn nữa một nền kinh tế đang bị tàn phá bởi Covid, NHTW đã in hàng nghìn tỷ USD thông qua chương trình nới lỏng định lượng. Và khi thị trường tín dụng đóng băng vào tháng 3/2020, Fed đã tung ra các công cụ tín dụng khẩn cấp để tránh nguy cơ xảy ra một cuộc suy thoái tài chính. Cuộc “giải cứu” với rất nhiều nỗ lực như vậy của Fed đã phát huy tác dụng. Bởi thực tế là đã không có cuộc khủng hoảng tài chính nào xảy ra vì Covid. Cùng với đó, vắc xin và những quyết định chi tiêu lớn từ chính phủ được Quốc hội thông qua đã mở đường cho nền kinh tế phục hồi nhanh chóng trở lại.

Tuy nhiên, nếu các hành động khẩn cấp của Fed trong trợ giúp nền kinh tế được đánh giá cao thì việc trì hoãn, chậm rút bỏ dần các hỗ trợ lại hứng chịu nhiều chỉ trích. Sau nhiều tháng trải qua lạm phát liên tục tăng cao, Fed vẫn cho rằng đó chỉ là yếu tố "tạm thời" và vì vậy đã chọn giữ nguyên các chính sách khẩn cấp với hy vọng lạm phát sẽ dần hạ nhiệt. Chỉ đến khi lạm phát được chứng minh là dai dẳng, xảy ra trên diện rộng và kéo dài, Fed mới bắt đầu hành động. Ông Bill Dudley, cựu Chủ tịch Fed New York cho rằng, Fed xứng đáng được "tín nhiệm cao" vì đã phản ứng "mạnh mẽ và rất nhanh" trong ứng phó với đại dịch vào đầu năm 2020, nhưng Fed cũng “đáng bị đổ lỗi” cho các phản ứng chậm trễ trong đối phó với lạm phát sau đó.

“Họ đã rất, rất muộn trong việc rút lại chính sách tiền tệ nới lỏng. Nhìn lại, điều đó hóa ra lại là một sai lầm về chính sách”, ông Dudley nói và nhận định thêm rằng, việc kết hợp giữa lạm phát có nguy cơ sẽ tiếp tục tăng, tăng trưởng kinh tế chậm lại và tỷ lệ thất nghiệp tăng trở lại sẽ là những yếu tố khiến nền kinh tế khó "hạ cánh mềm", thậm chí có thể rơi vào suy thoái trong năm 2023 và 2024. Hiện nay, dù lạm phát đang rất cao nhưng may mắn là tỷ lệ thất nghiệp lại đang ở mức thấp nhất trong 50 năm.

Cần quen với việc thắt chặt mạnh hơn

Mỗi khi Fed tăng lãi suất, việc đi vay sẽ trở nên đắt đỏ hơn. Điều đó có nghĩa người đi vay sẽ mất nhiều chi phí hơn cho các khoản thế chấp, hạn mức tín dụng sở hữu nhà, thẻ tín dụng, nợ sinh viên hay các khoản vay mua ô tô. Các khoản vay kinh doanh cũng sẽ đắt hơn, dù là với các doanh nghiệp lớn hay nhỏ. Tuy nhiên, tác động thực tế đến chi phí đi vay trong những tháng tới ra sao còn tùy thuộc vào tốc độ tăng lãi suất của Fed những tháng tới đây như thế nào. Ví dụ, nếu mức tăng mỗi lần cứ “đều đều” 0,5% thì chi phí vay tất yếu sẽ tăng lên đáng kể.

Một cách hữu hình, dễ thấy nhất mà điều này đang diễn ra là với các khoản thế chấp, trong đó kỳ vọng về việc tăng lãi suất đã khiến lãi suất vay thực tế tăng lên. Lãi suất cho khoản thế chấp có lãi suất cố định trong 30 năm trung bình là 5,1% trong tuần kết thúc vào ngày 28/4. Con số này tăng mạnh so với mức dưới 3% trong tháng 11/2021. Lãi suất vay thế chấp cao hơn sẽ khiến việc mua nhà trở nên khó khăn hơn khi giá nhà đã tăng vọt trong suốt thời kỳ đại dịch. Theo Hiệp hội môi giới bất động sản quốc gia, giá trung bình cho một căn nhà được bán vào tháng 3 đã tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái lên 375.300 USD.

Song bên cạnh đó, việc Fed tăng lãi suất mạnh hơn lại là tin tốt cho những người gửi tiết kiệm. Việc lãi suất sát 0% dù mang lại lợi ích cho người đi vay nhưng lại là đòn đau với những người gửi tiết kiệm. Việc có tiền - dù được cất giữ trong các khoản tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi (CD) hay các tài khoản tiền tệ đều hầu như không “kiếm được gì” ít nhất là trong suốt giai đoạn Covid vừa qua. Nói trắng ra là nếu so với lạm phát, những người gửi tiết kiệm thực tế đã bị mất thêm tiền. Do đó, khi Fed điều chỉnh tăng lãi suất, thậm chí với mức tăng cao hơn 0,25%, người gửi tiết kiệm sẽ bắt đầu kiếm được tiền lãi trở lại. Tất nhiên điều này cần thời gian để phát huy tác dụng. Bởi trong rất nhiều trường hợp, đặc biệt là với các tài khoản tiết kiệm truyền thống tại các ngân hàng lớn, tác động “có lợi” trở lại như vậy sẽ không thể cảm nhận được trong một sớm một chiều. Và ngay cả sau nhiều đợt tăng lãi suất, lãi suất tiết kiệm vẫn sẽ rất thấp - dưới mức lạm phát và lợi nhuận kỳ vọng trên thị trường chứng khoán.

Fed tăng lãi suất cũng khiến các thị trường sẽ có điều chỉnh. Chính sách tiền dễ, tiền rẻ trong thời gian qua của Fed khiến lợi suất trái phiếu chính phủ kém hấp dẫn và về cơ bản buộc các nhà đầu tư phải đặt cược vào các tài sản rủi ro hơn như cổ phiếu. Nhưng khi lãi suất tăng trở lại, thị trường chứng khoán sẽ phải đối mặt với nhiều cạnh tranh hơn trong thời gian tới do trái phiếu chính phủ cũng bớt cảnh “nhàm chán” trong suốt thời gian qua.

Nhưng một lần nữa, sự điều chỉnh của các thị trường thế nào phần lớn sẽ phụ thuộc vào tốc độ tăng lãi suất của Fed và tác động của nó tới nền kinh tế và lợi nhuận của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, với lạm phát cao đang tiếp tục ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, sinh hoạt và hành vi, tâm lý tiêu dùng (đang thấp đi) hiện nay, việc tăng lãi suất của Fed - dù nhanh và mạnh hơn - cũng cần thời gian để lạm phát hạ nhiệt trở lại. Chưa kể ít nhất trong ngắn hạn, lạm phát còn phụ thuộc vào diễn biến của cuộc xung đột Nga - Ukraine và giá cả hàng hóa cơ bản, những gián đoạn chuỗi cung ứng và tất nhiên là những diễn biến tiếp theo của đại dịch Covid.

Hồng Quân

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
4,00
4,00
5,50
5,30
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,40
3,50
3,70
5,20
5,40
5,70
6,00
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,10
3,20
3,40
4,50
4,60
5,10
5,80
Sacombank
0,03
-
-
-
3,30
3,50
3,70
4,70
4,70
5,80
6,20
Techcombank
0,03
-
-
-
2,75
2,75
3,25
4,55
4,55
5,45
5,55
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
DongA Bank
0,20
0,20
0,20
0,20
3,70
3,70
3,70
5,60
5,70
6,20
6,50
Agribank
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,50
5,50
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.210 23.520 26.488 27.866 31.023 32.318 204.16 214.87
BIDV 23.225 23.505 26.575 27.683 31.139 32.402 203.99 213.29
VietinBank 23.220 23.520 26.607 27.727 31.399 32.409 204.47 213.47
Agribank 23.200 23.490 26.787 27.493 31.334 32.117 205.87 211.70
Eximbank 23.260 23.480 26.871 27.398 31.480 32.096 206.75 210.81
ACB 23.250 23.480 26.814 27.429 31.401 31.993 206.11 211.05
Sacombank 23.255 23.707 26.953 27.513 31.568 32.084 206.29 212.66
Techcombank 23.234 23.520 26.643 27.863 31.118 32.281 205.24 214.28
LienVietPostBank 23.210 23.490 26.875 27.928 31.504 31.988 207.19 213.97
DongA Bank 23.280 23.530 26.930 27.410 31.560 32.110 203.80 210.30
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
67.650
68.270
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
67.650
68.250
Vàng SJC 5c
67.650
68.270
Vàng nhẫn 9999
52.200
53.150
Vàng nữ trang 9999
52.050
52.750