Mỹ trở thành “vua nợ”, nhưng giờ là cần thiết

09:55 | 08/05/2020

Các nhà kinh tế đồng thuận rằng, Mỹ phải tiếp tục tăng nợ để ngăn chặn nguy cơ nền kinh tế rơi vào đình trệ toàn diện. Nhưng mặt khác, họ cũng chỉ ra việc không còn nhiều dư địa để nền kinh tế có thể trả nợ khi cuộc khủng hoảng sức khỏe hiện nay qua đi. Ngay cả các cơ quan giám sát thâm hụt cũng đang thúc giục Mỹ cần tiếp tục vay nợ.

Tổng thống Donald Trump đang sống với biệt danh "vua nợ". Trên đồng hồ nợ công, Mỹ luôn vay mượn mạnh mẽ - ngay cả khi nền kinh tế đang tốt chứ không nói đến thời điểm tồi tệ hiện tại.

Ảnh minh họa

Mỹ bước vào cuộc khủng hoảng đại dịch Covid-19 hiện nay trong tình trạng khó khăn. Nợ trên GDP đã ở mức gần 80% ngay trước khi đại dịch xảy ra - một tỷ lệ cao hơn gấp đôi so với mức trung bình lịch sử. Giờ đây, nợ quốc gia đang tiếp tục bùng nổ - hiện đã ở mức gần 25 nghìn tỷ USD - vì Washington buộc phải giải cứu nền kinh tế Mỹ khỏi cú sốc lớn nhất từ trước đến nay. Tuy nhiên, trong khi nợ quốc gia tăng mạnh là điều đáng sợ thì hầu hết ý kiến đều cho rằng, giờ không phải là lúc để cắt giảm khoản vay.

Các nhà kinh tế đồng thuận rằng, Mỹ phải tiếp tục tăng nợ để ngăn chặn nguy cơ nền kinh tế rơi vào đình trệ toàn diện. Nhưng mặt khác, họ cũng chỉ ra việc không còn nhiều dư địa để nền kinh tế có thể trả nợ khi cuộc khủng hoảng sức khỏe hiện nay qua đi. Ngay cả các cơ quan giám sát thâm hụt cũng đang thúc giục Mỹ cần tiếp tục vay nợ. “Chúng ta đã phạm một sai lầm rất lớn là tăng nợ nần khi nền kinh tế đang mạnh”, Maya MacGuineas - Chủ tịch Ủy ban lưỡng đảng về ngân sách liên bang có trách nhiệm nói với CNN Business. “Nhưng nếu chỉ vì chúng ta đã liều lĩnh và dại dột đi vào khủng hoảng như vậy mà giờ không nên vay nợ thêm nữa thì cũng không đúng”.

Cùng quan điểm trên, Chủ tịch Fed Jerome Powell gần đây cũng bày tỏ sự hối tiếc về việc Mỹ đã không kiểm soát được tình trạng nợ nần từ nhiều năm trước. “Lý tưởng nhất là bạn sẽ đi vào một cú sốc bất ngờ như thế này với vị thế tài khóa mạnh mẽ hơn nhiều”, ông Powell nói trong cuộc họp báo tuần trước. Tuy nhiên, ông cũng kêu gọi các chính trị gia đừng quá lo lắng về điều đó vào thời điểm này. “Giờ không phải là lúc để cho mối quan tâm đó, đừng để nó cản đường chúng ta chiến thắng trong trận chiến này”.

Tất nhiên, sẽ có những hậu quả lâu dài khi núi nợ ngày tăng lên. Bởi cuối cùng, điều đó có nghĩa là lãi suất sẽ cao hơn, lạm phát sẽ nóng hơn và cả khả năng thuế cũng sẽ cao hơn. Nhưng hiện tại, tăng nợ vẫn là “sự cần thiết tuyệt đối”, bởi trọng tâm là giữ cho các DN, hộ gia đình và nền kinh tế Mỹ hoạt động.

Văn phòng Ngân sách Quốc hội dự kiến thâm hụt ngân sách liên bang sẽ cán mức 3,7 nghìn tỷ USD trong năm nay, tăng từ mức 1 nghìn tỷ USD trong năm 2019. Theo Moody’s, thâm hụt liên bang dự kiến sẽ đạt 18,4% GDP vào năm 2020 và chỉ giảm dần trong thập kỷ tới. Trước đại dịch, Moody’s dự báo nợ của Mỹ sẽ đạt 100% GDP vào năm 2030. Còn trong dự báo mới nhất, Moody’s dự kiến nợ sẽ ở mức 128% GDP vào thời điểm đó.

Tuy nhiên, cũng có tin tốt là Bộ Tài chính Mỹ dường như đang không gặp phải khó khăn gì, ít nhất là cho đến nay, với việc tài trợ thâm hụt. Lợi suất kho bạc 10 năm vẫn ở gần mức thấp nhất mọi thời đại khi đang chỉ xoay quanh mức 0,7%. Điều đó báo hiệu các nhà đầu tư dường như không mấy e ngại về tình hình nợ hiện tại của Mỹ.

Đỗ Phạm

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.080 23.290 24.785 26.201 28.371 29.555 212,92 224,08
BIDV 23.110 23.290 25.188 26.023 28.700 29.297 212,57 221,15
VietinBank 23.110 23.290 25.054 26.020 28.678 29.318 213,68 221,38
Agribank 23.100 23.280 25.100 25.651 28.668 29.273 215,15 220,06
Eximbank 23.110 23.280 25.169 25,625 28.772 29.292 216,19 220,10
ACB 23.110 23.280 25.191 25.590 28.911 29.296 216,33 219,77
Sacombank 23.100 23..310 25.214 25.771 28.888 29.397 215,79 222,15
Techcombank 23.096 23.296 24.937 25.922 28.492 29.451 214,75 221,88
LienVietPostBank 23.120 23.280 24,968 25.948 28.651 29.622 214,67 225,88
DongA Bank 23.140 23.270 25.160 25.570 28.750 29.230 212,70 219,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
49.520
49.920
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
49.520
49.900
Vàng SJC 5c
49.520
49.920
Vàng nhẫn 9999
49.130
49.680
Vàng nữ trang 9999
48.780
49.530