Mỹ, Trung phải nỗ lực hơn trong vai trò của mình

08:00 | 05/08/2020

Cả Mỹ và Trung Quốc đều phải nỗ lực hơn nữa trong vai trò là các nền kinh tế chủ đạo dẫn dắt toàn cầu vào thời điểm mà ngay cả các nước nghèo nhất thế giới cũng đang phải đối mặt với khó khăn do đại dịch Covid-19 gây ra. Nếu không, các thị trường mới nổi và các nước đang phát triển sẽ bị nhấn chìm trong cuộc chiến chống lại dịch bệnh.

Theo trích dẫn dữ liệu từ báo cáo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) hồi tháng 6, các biện pháp tài chính và tín dụng được thực hiện bởi các nước công nghiệp phát triển để đối phó với đại dịch chiếm tới 20% tổng sản phẩm quốc nội. Trong khi đó, tại các nền kinh tế mới nổi, con số đó đã giảm xuống còn 5%, và đối với các nền kinh tế đang phát triển, hoặc các nước nghèo nhất thế giới, nó chỉ là 1%.

Ảnh minh họa

Đại diện của IMF chia sẻ, 45 quốc gia đang phát triển có thu nhập thấp đã và đang tìm kiếm nguồn tài trợ khẩn cấp từ nguồn cho vay toàn cầu và nợ công tại các quốc gia này đã vượt quá 48% GDP trung bình trong giai đoạn 2020-2021.

Ông Harman Shanmugaratnam, Bộ trưởng cấp cao ở Singapore và là Chủ tịch của ngân hàng trung ương Singapore cho rằng, hầu hết sự tăng trưởng ngày nay, hay khoảng hai phần ba tăng trưởng toàn cầu đều đến từ các thị trường mới nổi.

Ông Raghuram Rajan, giáo sư tài chính tại đại học Chicago cho biết, sự bùng phát coronavirus đã gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế toàn cầu. Thế giới cần sự lãnh đạo toàn cầu để mở rộng các nguồn lực cần thiết cho các quốc gia cần chúng nhất. Điều đó phải đến từ hai nền kinh tế lớn nhất thế giới - Trung Quốc và Hoa Kỳ. 40 quốc gia nghèo nhất thế giới rõ ràng hiện nay đang cần rất nhiều nguồn lực hỗ trợ hơn nữa để chống lại dịch Covid-19.

Tuy nhiên, sự căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ vẫn đang tiếp tục leo thang trong năm nay về nhiều vấn đề khác nhau, từ nguồn gốc của sự bùng phát coronavirus, đến sự cạnh tranh của họ trên Biển Đông và việc thông qua luật an ninh quốc gia gây tranh cãi ở Hồng Kông. Cựu Thống đốc NHTW Ấn Độ Rajan cho biết ông hy vọng cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11 tới sẽ là bước ngoặt để cả hai nước có thể đi đến một cuộc đối thoại.

Một lần nữa cần nhấn mạnh rằng thế giới thực sự cần có một vai trò to lớn đối với sự lãnh đạo toàn cầu, và nó phải xuất phát từ hai quốc gia lớn nhất thế giới. Hy vọng các nước, các nền dân chủ nhỏ hơn trên thế giới có thể thúc đẩy quan hệ Mỹ - Trung đến với nhau trong một cuộc đối thoại gần nhất.

Minh Đức

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
4,30
4,30
4,80
5,53
5.53
6,00
6,10
BIDV
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
4,00
3,80
3,80
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,70
3,80
3,90
5,10
5,30
5,70
6,50
Sacombank
-
-
-
-
3,90
4,00
4,00
5,70
6,10
6,50
6,70
Techcombank
0,10
-
-
-
3,50
3,60
3,65
5,20
5,00
5,00
5,10
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
4,00
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
4,25
4,25
4,25
4,60
4,80
6,20
6,20
Agribank
0,10
-
-
-
3,50
3,50
3,80
4,40
4,50
6,00
6,00
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.060 23.270 26.695 28.056 29.810 31.055 209,94 219,98
BIDV 23.090 23.270 27.001 28.079 30.133 30.828 211,11 219,65
VietinBank 23.041 23.271 27.131 28.156 30.290 31.300 211,26 219,76
Agribank 23.085 23.255 27.052 27.645 30.171 30.819 211,09 219,19
Eximbank 23.080 23.250 27.118 27.588 30.283 30.809 215,11 218,84
ACB 23.090 23.260 27.148 27.622 30.479 30.889 214,57 218,55
Sacombank 23.078 23..290 27.219 27.773 30.436 30.947 214,46 220,84
Techcombank 23.072 23.272 26.907 28.120 30.003 31.136 213,40 222,52
LienVietPostBank 23.100 23.260 27.067 27.571 30.322 30.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.110 23.240 27.100 27.580 30.260 30.800 211,60 218,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
56.000
56.720
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
56.000
56.700
Vàng SJC 5c
56.000
56.720
Vàng nhẫn 9999
53.900
54.550
Vàng nữ trang 9999
53.450
54.250