Năm 2019 lạm phát ước tăng 2,73%

08:43 | 26/12/2019

Bộ Tài chính cho biết, theo tính toán sơ bộ chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân của năm 2019 ước tăng 2,73%, thấp nhất trong 3 năm gần đây (năm 2018 là 3,54% và năm 2017 là 3,53%) và thấp hơn khá nhiều so với dự báo của Ban chỉ đạo đưa ra hồi đầu năm. 

Lựa chọn kịch bản điều hành lạm phát năm 2020 dưới 4%
Tiêu dùng nội địa tăng trưởng mạnh đã hỗ trợ tích cực cho nền kinh tế - Ảnh: Hoàng Giáp

Lạm phát thấp nhất trong 3 năm qua

“Cụ thể thì chưa tính rõ được nhưng chắc chắn là tăng trưởng kinh tế trên 7%. Đây là năm thứ 2 tăng trên 7%. Trong khi kinh tế vĩ mô ổn định và được gia cường thêm; lạm phát chỉ khoảng 2,73%, thấp hơn nhiều so với tăng trưởng, càng giúp cho tăng trưởng thêm ý nghĩa”, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ - Trưởng Ban chỉ đạo điều hành giá của Chính phủ phát biểu tại  phiên họp cuối năm của Ban chỉ đạo sáng ngày 25/12/2019.

Đầu năm nay Ban chỉ đạo dự báo CPI tăng từ 3,3- 3,9%. Tuy nhiên tại phiên họp này, Bộ Tài chính cho biết, theo tính toán sơ bộ chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân của năm 2019 ước tăng 2,73%, thấp nhất trong 3 năm gần đây (năm 2018 là 3,54% và năm 2017 là 3,53%) và thấp hơn khá nhiều so với dự báo của Ban chỉ đạo đưa ra hồi đầu năm. 

Các nguyên nhân chủ yếu làm tăng CPI trong năm 2019 do một số mặt hàng tăng giá theo quy luật hằng năm như nhóm hàng tiêu dùng (thực phẩm, dịch vụ ăn uống, đồ uống, dịch vụ giao thông công cộng, du lịch...); giá nhiên liệu, chất đốt trong nước tăng theo giá thế giới; giá dịch vụ y tế điều chỉnh tăng theo mức tăng thêm của lương cơ bản; giá vật liệu xây dựng và nhân công tăng do nhu cầu và chi phí đầu vào. Đặc biệt, trong nửa cuối năm 2019, mặt bằng giá thịt lợn trong nước chịu áp lực lớn từ biến động tăng cao giá thịt lợn do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi khiến nguồn cung thịt sụt giảm. 

Ở chiều ngược lại, các nguyên nhân làm giảm áp lực lên mặt bằng giá là giá lương thực giảm; giá dầu, gas, viễn thông, đường giảm... Bên cạnh đó là nguyên nhân về công tác điều hành, phối hợp các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu, tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường giá cả; điều hành tỷ giá theo cơ chế tỷ giá trung tâm linh hoạt; chủ động tính toán, điều chỉnh giá các mặt hàng thiết yếu theo lộ trình thị trường và kịch bản của Ban chỉ đạo.

Tại phiên họp này, lãnh đạo các bộ, ngành đều cho rằng Chính phủ và các địa phương đã điều hành lạm phát thành công, ở mức thấp 2,7- 2,8%, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế (điều chỉnh một bước giá các dịch vụ công nhà nước quản lý như giá dịch vụ y tế, giáo dục và giá điện theo thị trường). 

Năm 2020: Kiên trì điều hành lạm phát dưới 4%

Tại cuộc họp của Ban chỉ đạo, ông Phùng Đức Tiến - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo mặc dù nguồn cung thịt lợn thiếu hụt làm giá thịt lợn tăng, nhưng xét về tổng thể, nguồn cung lương thực, thực phẩm trong nước dồi dào, tăng tới 760.000 tấn so với năm 2018, góp phần bù đắp sự thiếu hụt này. 

Theo số liệu từ Hải quan, sau 11 tháng, Việt Nam đã cho nhập 111.000 tấn thịt lợn, tăng 108% về khối lượng và tăng 97% về trị giá. Thứ trưởng Tiến cho biết từ tháng 1/2020 sẽ bắt đầu cung ứng thịt lợn từ tái đàn và tiếp tục nhập khẩu thịt lợn để đáp ứng nhu cầu người dân.

Các kịch bản về điều hành giá năm 2020 đã được đưa ra và thảo luận tại cuộc họp. Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính), NHNN và Tổng cục Thống kê đều đưa ra các kịch bản điều hành giá của riêng mình cho năm 2020, trong đó các cơ quan đều có 2 kịch bản dưới 4% và kịch bản cuối cùng xấu nhất là trên 4%. Ông Nguyễn Anh Tuấn - Cục trưởng Cục quản lý giá, Bộ Tài chính cho rằng trong quý I/2020, giá thị lợn sẽ tăng khoảng 5% cộng với một số mặt hàng tăng vào Tết Nguyên đán nên lạm phát sẽ hơn 4%.

Cho rằng công tác điều hành giá năm 2020 sẽ thách thức hơn năm 2019, nhưng quyết tâm điều hành lạm phát năm 2020 tăng từ 3,59% đến 3,91%, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh. Theo đó, công tác điều hành giá năm 2020 cần phải được xem xét dựa trên các khía cạnh xung đột thương mại và địa chính trị trên toàn cầu, việc điều hành linh hoạt tỷ giá và chính sách tiền tệ theo thị trường và phát huy cơ chế điều phối giữa các bộ, ngành, địa phương... 

Cụ thể, về bảo đảm nguồn cung thịt lợn, Phó Thủ tướng giao Bộ NN&PTNT thực hiện đúng yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ và đáp ứng nhu cầu nhân dân: “Không để thiếu thịt lợn. Nếu thiếu thì phải nhập khẩu ngay”. Bên cạnh đó, các bộ, ngành không điều chỉnh giá các dịch vụ công trong quý I và quý IV/2020; điều hoà cung cầu, bảo đảm nguồn cung cho nền kinh tế, không để xảy ra thiếu hàng, sốt giá tất cả các loại hàng chứ không riêng gì thực phẩm.

“Mặc dù sức ép lên lạm phát còn nhiều, nhất là sức ép từ giá thịt lợn sẽ đẩy lạm phát trong quý I tăng cao trên 4%, nhưng Ban chỉ đạo nhận thấy hoàn toàn có khả thi khi để lạm phát cả năm 2020 dưới 4% theo yêu cầu của Quốc hội trên nguyên tắc tuân thủ yêu cầu của thị trường, cung - cầu hàng hoá”, Phó Thủ tướng kết luận.

Đỗ Lê – Linh Chung

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,50
0,50
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
BIDV
0,10
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,50
5,60
7,00
7,00
VietinBank
0,10
0,30
0,30
0,30
4,30
4,30
4,80
5,30
5,30
6,80
6,80
Eximbank
0,30
0,80
0,80
0,80
4,60
4,80
5,00
5,60
5,80
7,70
8,40
ACB
0,30
0,80
0,80
0,80
5,00
5,00
5,00
6,30
6,40
6,80
7,60
Sacombank
0,30
-
-
-
4,90
4,95
5,00
6,30
6,40
6,90
7,30
Techcombank
0,30
-
-
-
4,00
4,00
4,00
5,90
5,50
6,00
6,10
LienVietPostBank
0,10
0,80
0,80
0,80
4,90
4,90
5,00
6,10
6,20
6,90
7,30
DongA Bank
0,29
0,29
0,29
0,29
5,00
5,00
5,00
7,00
7,20
7,40
7,60
Agribank
0,20
-
-
-
4,30
4,30
4,80
5,30
5,40
6,80
6,80
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 23.440 23.650 25.380 26.593 28.435 29.445 210,44 221,18
BIDV 23.460 23.640 25.769 26.623 28.840 29.445 213,23 221,80
VietinBank 23.425 23.615 25.352 26.577 28.529 29.499 213,02 222,12
Agribank 23.540 23.690 24.749 25.272 26.830 27.349 209,08 213,60
Eximbank 23.460 23.630 25.654 26,272 28.866 29.542 216,37 221,59
ACB 23.450 23.620 25.743 26.151 29.006 29.391 216,86 220,30
Sacombank 23.435 23.620 25.776 26.341 28.973 29.491 216,32 222,70
Techcombank 23.460 23.620 25.489 26.462 28.591 29.534 215,46 222,41
LienVietPostBank 23.460 23.630 25.427 26.417 28.563 29.539 212,77 223,93
DongA Bank 23.500 23.610 25.750 26.180 28.980 29.490 213,60 220,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
47.050
48.070
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
47.050
48.050
Vàng SJC 5c
47.050
48.070
Vàng nhẫn 9999
44.450
45.550
Vàng nữ trang 9999
44.150
45.350