Năm 2021, cổ phiếu ngân hàng vẫn đáng để đầu tư

09:20 | 22/01/2021

Theo ông Nguyễn Văn Dũng, mặc dù tăng trưởng tín dụng thấp, song chất lượng tín dụng vẫn đảm bảo. Biên lợi nhuận ròng của các ngân hàng (NIM) được cải thiện nhờ giá vốn tương đối rẻ nên do vậy, ngân hàng vẫn là ngành đáng để đầu tư, đáng có trong danh mục trong năm 2021 này.

Nhiều dự báo của các chuyên gia cũng như kế hoạch của Chính phủ, năm 2021 nền kinh tế có thể tăng trưởng ở mức từ 6-7%. Năm 2021 cũng năm có rất nhiều bộ luật mới liên quan đến kinh tế và chứng khoán bắt đầu có hiệu lực và nó sẽ làm cơ sở để giúp môi trường kinh doanh của Việt Nam tốt hơn. Cùng với đó là kỳ vọng thu hút đầu tư nước ngoài từ những Hiệp định thương mại tự do đã ký kết và đã có hiệu lực trong năm qua. Đây là những nền tảng cơ sở vật chất cho sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán năm 2021 này.

nam 2021 co phieu ngan hang van dang de dau tu
Ông Nguyễn Văn Dũng

Ông Nguyễn Văn Dũng - Chủ tịch HĐQT kiêm Phó tổng giám đốc Công ty Chứng khoán FPT trao đổi cùng phóng viên Thời báo Ngân hàng.

Theo ông NĐT cần có chiến lược như thế nào để đón nhận và tận dụng lợi thế này?

Chúng ta đều thấy năm 2020 thị trường chứng khoán đã tăng trưởng rất tốt và 2021 cũng rất tiềm năng. Tuy vậy, với mỗi DN hoặc các ngành khác nhau thì có sự tăng trưởng khác nhau. Vì thị giá cũng như vậy, sự tăng giá về cơ bản sẽ đến từ nội tại của DN.

Trong những trường hợp khi NĐT có những sự hồ hởi hoặc phấn khích thái quá sẽ làm cho giá cổ phiếu đi lên, nếu NĐT không sáng suốt và nhìn nhận từ nền tảng cơ bản của DN thì có thể rơi vào “bẫy giá” và không thu lại lợi nhuận khi đầu tư. Cho nên lời khuyên của tôi chính là NĐT cần phải sáng suốt để nhìn nhận một cách cơ bản, đúng đắn về thị trường, ngành nào và DN nào có sự tăng trưởng tốt mới nên đầu tư, chứ không phải tất cả mọi ngành, mọi DN đều đầu tư như nhau.

Vậy ông nhận định thế nào về tiềm năng cổ phiếu ngân hàng trong năm 2021 này?

Theo cá nhân tôi, ngân hàng vẫn là ngành xương sống của nền kinh tế và có tiềm năng rất tốt. Như năm 2020, ngân hàng và bất động sản là hai ngành chiếm tỷ trọng vốn hóa lớn và có hưởng lợi nhất định. Bởi lẽ khi dòng vốn giá rẻ, cộng thêm với việc các ngân hàng chưa phải đối mặt với những nợ xấu từ Covid do đã được Chính phủ khống chế tương đối tốt.

Bên cạnh đó, mặc dù tăng trưởng tín dụng thấp, song chất lượng tín dụng vẫn đảm bảo. Biên lợi nhuận ròng của các ngân hàng (NIM) được cải thiện nhờ giá vốn tương đối rẻ nên do vậy, tôi cho rằng ngân hàng vẫn là ngành đáng để đầu tư, đáng có trong danh mục trong năm 2021 này.

Ông có khuyến nghị gì với NĐT khi đầu tư vào cổ phiếu ngân hàng?

Để phân tích hay đánh giá cổ phiếu một ngân hàng không dễ như DN bình thường. Do vậy, với cổ phiếu ngân hàng, tôi có một vài khuyến nghị với các NĐT. Thứ nhất, ngân hàng là ngành kinh doanh có điều kiện và hiện nay đang được Chính phủ và NHNN giám sát rất chặt chẽ, nên việc mở mới ngân hàng là điều không dễ dàng. Trong khi với dân số Việt Nam hiện nay khoảng 100 triệu người nên tiềm năng cho cổ phiếu ngành Ngân hàng rất cao.

Tuy nhiên, như tôi nói việc đánh giá tiềm năng của cổ phiếu ngân hàng là không dễ đánh giá. Nó khác với các loại hình DN khác và lợi nhuận của ngân hàng đi lên đi xuống tương đối đồng biến với nền kinh tế. Khi nền kinh tế khó khăn, nợ xấu nhiều khi chỉ cần thêm 1% cũng khiến lợi nhuận ngân hàng giảm rất nhiều. Tuy nhiên, khi GDP tăng trưởng đi lên thì việc gia tăng lợi nhuận của ngân hàng cũng lên rất cao. Đó là điều đầu tiên mà các NĐT phải nhìn nhận.

Thứ hai, các NĐT cũng cần phải có phương pháp và kiến thức để đánh giá được chất lượng tài sản của ngân hàng, bởi lẽ hệ số đòn bẩy của ngân hàng tương đối cao. Cho nên, tại sao chúng ta thấy rất nhiều ngân hàng có thị giá cổ phiếu rất cao, nhưng cũng có những ngân hàng thị giá cổ phiếu rất thấp. Nếu chỉ nhìn về mặt lợi nhuận thì con số lợi nhuận sẽ không thể hiện hết nền tảng của cổ phiếu, mà quan trọng nó nằm ở chất lượng tín dụng và lượng tài sản...

Xin cảm ơn ông!

Trần Hương thực hiện

Nguồn:

Tin nổi bật

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.900 23.110 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.920 23.120 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.885 23.125 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.880 23.090 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.910 23.090 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.930 23.110 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.915 23.127 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.910 23.110 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.920 23.100 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 22.940 23.100 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.900
56.320
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.900
56.300
Vàng SJC 5c
55.900
56.320
Vàng nhẫn 9999
53.300
53.900
Vàng nữ trang 9999
52.900
53.700