Nâng giá trị thương hiệu ngân hàng

09:40 | 26/02/2021

Việc nâng cao giá trị thương hiệu đang là mục tiêu mà các ngân hàng Việt Nam đều hướng tới để không chỉ dừng lại ở việc khẳng định thương hiệu nơi sân nhà, mà còn kỳ vọng có thể cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.

nang gia tri thuong hieu ngan hang Xây dựng thương hiệu: Con đường gần… mà xa
nang gia tri thuong hieu ngan hang Vinh quang đến từ những nỗ lực không ngừng

Công ty tư vấn định giá thương hiệu hàng đầu thế giới Brand Finance vừa công bố bảng xếp hạng 500 thương hiệu ngân hàng lớn nhất toàn cầu năm 2021 (Brand Finance Banking 500). Việt Nam có 9 ngân hàng lọp vào top 500 này và đều ghi nhận sự cải thiện về thứ hạng. Trong đó Agribank có thứ hạng cao nhất - đứng thứ 173 trên toàn cầu, tăng 17 bậc so với vị trí 190 của năm trước. Tiếp đến là Vietcombank, VietinBank, VPBank, BIDV, Techcombank, MBBank, Sacombank và ACB. Đặc biệt VietinBank góp mặt với giá trị thương hiệu tăng 55,8%. Việc lựa chọn và đánh giá, xếp hạng năm 2021 đối với các ngân hàng của Brand Finance dựa trên tiêu chí về thị phần, tốc độ tăng trưởng, quy mô tài sản, năng lực tài chính, hiệu quả hoạt động cũng như uy tín thương hiệu.

Năm 2020 là một năm khó khăn với tất cả các ngành nghề, lĩnh vực trên toàn cầu do ảnh hưởng mạnh mẽ của dịch Covid-19, ngân hàng cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, Việt Nam đã thật sự thành công trên mặt trận chống dịch Covid-19, phòng chống thiên tai cũng như giữ vững các cân đối vĩ mô, là một trong hiếm hoi quốc gia có mức tăng trưởng dương.

nang gia tri thuong hieu ngan hang
Giai đoạn 2021-2025, phấn đấu 2-3 NHTM thuộc Top 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) khu vực châu Á

Trước hết phải kể đến vai trò của NHNN. Theo đó, việc NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ tích cực, chủ động, linh hoạt đã góp phần kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, tạo điều kiện kéo giảm lãi suất, ổn định tỷ giá, hỗ trợ doanh nghiệp, người dân. Đặc biệt, trong năm qua, NHNN đã ban hành nhiều quy định, chính sách nâng cao năng lực hoạt động, giữ bảo đảm an toàn cho hoạt động hệ thống TCTD tại Việt Nam. Chính những yếu tố này cũng đã góp phần giúp các TCTD tại Việt Nam được các tổ chức định hạng quốc tế nâng hạng tín nhiệm; nhiều tiêu chí đạt trần quốc gia dù chịu ảnh hưởng không nhỏ của dịch Covid-19. Trong đó xếp hạng của Brand Finance là một ví dụ.

Chia sẻ thêm về điều này, một chuyên gia nhìn nhận, sau giai đoạn tái cơ cấu vừa qua, các TCTD đã thật sự có sự chuyển biến, năng lực tài chính không ngừng được củng cố, phục vụ tốt các nhu cầu tài chính ngân hàng của nền kinh tế. Theo đó, tổng tài sản của các TCTD đến hết 31/10/2020 là 13,18 triệu tỷ - gấp 1,6 lần năm 2016, bằng 2,2 lần GDP và chiếm khoảng 66% tài sản của hệ thống tài chính. Hiện hệ thống ngân hàng đang là kênh huy động và phân phối vốn chủ yếu cho nền kinh tế. Trong đó 4 NHTM nhà nước (Agribank, Vietcombank, BIDV, VietinBank) đã phát huy được vai trò chủ lực, khả năng dẫn dắt, điều tiết thị trường với tổng tài sản chiếm tỷ trọng 41% toàn hệ thống (5.422.866 tỷ đồng); vốn điều lệ chiếm tỷ trọng 20% (155.248 tỷ đồng). “Hệ thống Ngân hàng Việt Nam trụ vững, không bị tụt hạng nhiều trong đại dịch Covid-19 là nhờ việc duy trì được thanh khoản tốt”, vị chuyên gia này cho biết.

Có thể khẳng định việc nâng cao giá trị thương hiệu đang là mục tiêu mà các ngân hàng Việt Nam đều hướng tới để không chỉ dừng lại ở việc khẳng định thương hiệu nơi sân nhà, mà còn kỳ vọng có thể cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 cũng hướng tới việc giai đoạn 2021-2025 có ít nhất từ 2-3 NHTM nằm trong Top 100 ngân hàng lớn nhất (về tổng tài sản) khu vực châu Á và 3-5 ngân hàng niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài.

Theo TS. Châu Đình Linh, xếp hạng tín nhiệm thương hiệu của một đơn vị thường tập trung vào ba yếu tố: kinh tế vĩ mô, đánh giá của toàn ngành Ngân hàng và đánh giá đơn vị được xếp hạng. Nói như vậy để thấy việc một nhà băng có sự thăng tiến liên quan rất chặt chẽ tới xếp hạng tín nhiệm quốc gia và của ngành. Xếp hạng tín nhiệm của một nhà băng khó có thể cao hơn mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia, song nếu tình hình nội bộ của từng ngân hàng được củng cố, khẳng định được sức chống chịu trước nhiều diễn biến bất thường của nền kinh tế trong và ngoài nước (điển hình như dịch bệnh Covid-19) thông qua cải thiện về các chỉ số ROA, ROE, hệ số CAR, quản trị rủi ro… thì giá trị của thương hiệu nhà băng cũng được đánh giá cao hơn rất nhiều. Đặc biệt, việc triển khai áp dụng Basel II là một trong những cơ sở để ngân hàng có thể cải thiện sức khoẻ, nâng cao uy tín của mình trong xu thế hội nhập quốc tế, nắm bắt cơ hội phát triển bứt phá của Việt Nam giai đoạn tới.

Nhiều chuyên gia cũng đồng tình cho rằng, việc chủ động tự đánh giá sức khoẻ, tiềm lực tài chính, năng lực quản trị của mình sẽ giúp cho từng TCTD thấu hiểu điểm mạnh, điểm còn hạn chế để có thể phát huy lợi thế, cải thiện phù hợp nhằm nâng cao giá trị thương hiệu của mình, trước khi chờ được NHNN xếp hạng. Cũng cần phải nói thêm rằng, để cải thiện tín nhiệm của hệ thống ngân hàng Việt Nam thì chất lượng cơ sở dữ liệu thông tin tín dụng cũng đặc biệt quan trọng. Điều này đòi hỏi cần sự hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hoạt động thông tin tín dụng của NHNN, đi đôi với việc mở rộng đối tượng cũng như nguồn thu thập thông tin, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải tiến quy trình nghiệp vụ thu thập, xử lý dữ liệu...

Khuê Nguyễn

Nguồn:

Thông tin chứng khoán

Cập nhật ảnh...
Nguồn : stockbiz.vn
Ngân hàng
KKH
1 tuần
2 tuần
3 tuần
1 tháng
2 tháng
3 tháng
6 tháng
9 tháng
12 tháng
24 tháng
Vietcombank
0,10
0,20
0,20
-
3,00
3,00
3,30
3,90
3,90
5,60
5,40
BIDV
0,10
-
-
-
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
VietinBank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,10
3,10
3,40
4,00
4,00
5,60
5,60
Eximbank
0,10
0,20
0,20
0,20
3,50
3,50
3,50
5,60
5,80
7,20
8,40
ACB
-
0,20
0,20
0,20
3,00
3,10
3,30
4,40
5,00
6,20
6,20
Sacombank
-
-
-
-
3,30
3,40
3,50
5,00
5,10
5,70
6,00
Techcombank
0,03
-
-
-
2,65
2,75
2,85
4,20
4,20
4,40
4,90
LienVietPostBank
0,10
0,10
0,10
0,10
3,70
3,70
3,80
4,60
4,80
6,20
6,20
DongA Bank
-
0,20
0,20
0,20
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Agribank
0,10
-
-
-
3,60
3,60
3,60
5,50
5,70
6,00
6,30
Ngân Hàng USD EUR GBP JPY
Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra
Vietcombank 22.955 23.165 27.591 28.506 30.510 31.785 215,75 226,99
BIDV 22.970 23.170 27.760 28.872 30.667 31.563 217,28 226,03
VietinBank 22.963 23.173 27.852 28.957 30.988 31.998 217,30 226,30
Agribank 22.980 23.160 27.785 28.479 30.918 31.669 219,50 225,66
Eximbank 22.970 23.160 27.939 28.461 30.994 31.573 220,96 225,08
ACB 22.970 23.150 27.958 28.460 31.172 31.604 220,83 225,02
Sacombank 22.960 23.182 28.038 28.593 31.150 31.655 220,76 227,12
Techcombank 22.968 23.168 27.717 28.940 30.710 31.855 219,56 228,84
LienVietPostBank 22.970 23.150 27.067 27.571 30.322 31.186 214,74 218,67
DongA Bank 23.990 23.150 27.930 28.430 31.030 31.580 217,40 224,40
(Cập nhật trong ngày)

Giá vàng Xem chi tiết

Khu vực
Mua vào
Bán ra
HÀ NỘI
Vàng SJC 1L
55.450
55.820
TP.HỒ CHÍ MINH
Vàng SJC 1L
55.450
55.800
Vàng SJC 5c
55.450
55.820
Vàng nhẫn 9999
51.700
52.300
Vàng nữ trang 9999
51.300
52.000